Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

XUÂN ÂN TÌNH - Thơ chúc mừng Năm Mới 2013 của Minh Sơn


Nhân dịp Năm Mới 2013, cùng với lời chúc Xuân chân thành, xin chia sẻ cùng quý chư độc giả mấy vần thơ khai bút. Còn nhớ năm ngoái, đầu năm 2012, kontumquehuongtoi cũng đã cảm khái một bài: XUÂN HÔM NAY, cuối năm ngẫm lại thấy cũng ứng nghiệm nhiều điều! 
Năm nay, trong thời tiết lạnh của mùa Đông còn sót lại, ngày đầu xuân mới xin một lần nữa chấp bút...lấy hên. Xuân này được cảm nhận là XUÂN ÂN TÌNH. Như là lời tri ân quý vị và các bạn đã đồng hành, ủng hộ trang krongblah.blogspot.com từ trước đây cũng như suốt năm qua 2012.
Xin đa tạ.
Minh Sơn.

thiep-dep-chuc-mung-nam-moi-2013

Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới Năm 2013



“Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI



1. Năm mới luôn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn. Trong ánh sáng này, tôi nguyện xin Thiên Chúa, là Cha của nhân loại, ban cho tất cả chúng ta sự hoà thuận và bình an để những khao khát của chúng ta về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng có thể được thành tựu.

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

THIẾT LẬP VÙNG ĐẠI DIỆN TÔNG TÒA KONTUM & CÁC CƠ SỞ TÒA GIÁM MỤC



NĂM 2012 - ĐẶC BIỆT KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY THIẾT LẬP VÙNG ĐẠI DIỆN TÔNG TÒA KONTUM (1932-2012) ; 
HƠN NỮA, GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐÃ HIỆN DIỆN TRONG VÙNG ĐẤT TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN TRÒN 164 NĂM (1848-2012). KONTUMQUEHUONGTOI XIN GIỚI THIỆU BÀI VIẾT ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG TÌM HIỂU THÊM VỀ LỊCH SỬ CỦA VÙNG KON TUM.

                           -----------------------------------------------------


THIẾT LẬP

VÙNG ĐẠI DIỆN TÔNG TÒA KONTUM

& CÁC CƠ SỞ TÒA GIÁM MỤC


  LINH MỤC GIOAKIM NGUYỄN HOÀNG SƠN



I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN GIÁO KONTUM TỪ ĐẦU ĐẾN NĂM 1932

  

1. Miền Ðất Tây Nguyên
Vùng Truyền Giáo Kontum chiếm một phần lớn phía nam của Đàng Trong Pháp thuộc. Với diện tích khoảng 70.000 km2, nó dài 450 km từ phía bắc đến phía nam và từ 150 đến 200km chiều rộng. Nó gồm các tỉnh người thượng Kontum, Pleiku và Ban-mê-thuột, Attopeu và Hinterand tỉnh QUẢNG NAM. Ở phía đông, dãy Trường Sơn chia cắt, trên 500 km, Miền Truyền Giáo và địa phận Qui-nhơn, địa phận mà Kontum trực thuộc mãi đến năm 1933; ở phía bắc, Vùng Truyền Giáo giáp địa phận Huế; ở phía tây, giáp Lào và Campuchia; ở phía nam, giáp miền truyền giáo Sài-gòn. Nửa phía bắc của Vùng Truyền Giáo Kontum là đồi núi, nhưng bị chia cắt bởi rất nhiều thung lũng. Phần lớn các thung lũng này rất lớn, được bao phủ bởi một thảm thực vật um tùm. Nửa phía nam là một vùng của các cao nguyên, có rất nhiều con suối và có nguồn đất đỏ cực kỳ thích hợp với trồng trọt. Dãy trường sơn, khá dốc đứng về phía biển, có sườn dốc thoải trên sườn tây; các đỉnh của nó có độ cao từ 1000 đến 1500 mét; vài đỉnh vượt quá 2000 mét.
Phần lớn các dòng sông thuộc về lưu vực sông Mê-Kông, nơi chúng tập hợp thành một cửa sông duy nhất ở Strungtreng. Tuy nhiên vài nhánh sông khác mở một lối vào trong các núi và đổ ra biển. Tổng dân số của Vùng Truyền Giáo trong thập niên ba mươi của thế kỷ XX khoảng 700.000, trong số đó người ta tính được 30.000 đến 40.000 người Việt và có lẽ là 10.000 người Lào; tất cả phần còn lại, nghĩa là phần lớn dân cư đều thuộc tộc “mọi”. Từ “mọi” là một từ tiếng Việt có nghĩa là “hoang dã”.

2. Con Người Tây Nguyên
Người thượng sống kiểu truyền thống của người hoang dã, cách sống của người sống trong rừng và nhờ rừng. Họ canh tác đất đai, nhưng không đủ để ăn. Nhà cửa là những túp lều trên các trụ (nhà sàn), được dựng bằng gỗ, tre và rạ: chúng nằm quây quần trong các làng, ở các nơi trống trải; các làng độc lập với nhau và hồi xưa thường giao chiến với nhau.
Người thượng được chia thành rất nhiều bộ tộc, nói mọi phương ngữ khác nhau, tuy nhiên người ta có thể quy về hai phương ngữ, gốc của các ngôn ngữ khác: Bahnar và Chàm. Nhân tiện chúng ta hãy nói rằng đó là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các thừa sai, những người buộc phải học nhiều phương ngữ khác nhau.
Về thể hình, người thượng có nước da ngăm hơn người Kinh; họ có thể tạng cao hơn và vạm vỡ hơn. Nhưng sự phát triển trí tuệ của họ kém hơn nhiều so với người Kinh: họ không có chữ viết, không có nền văn học nào, không trường học, và không có nền giáo dục nào. Tuy nhiên họ yêu âm nhạc, được phú bẩm lỗ tai bén nhạy và chất giọng tuyệt vời.
Về mặt thực tiễn, mỗi người làm ra những cái cần thiết, và vì những nhu cầu của họ rất hạn chế, nên việc cung ứng cho họ thì dễ dàng. Trong mỗi túp lều đều có nghề dệt, khá nguyên thủy; trong mỗi làng, một lò rèn nhỏ làm con dao, cái rìu … Chiếu và gùi, là những cái không thể thiếu, được đan bằng những sợi và dây lạt hay dây sậy.
Về mặt tôn giáo, người thượng thờ kính các thần hay các vong hồn, thần lành có, thần dữ cũng có; họ biết ơn các thần lành, nhưng đúng hơn họ sợ các thần dữ, họ dâng cúng các con gà, dê, heo, thậm chí là trâu. Các thần này được xem như có các thông dịch viên là các phù thủy nam, nhất là phù thủy nữ, người thổ dân tin tưởng hoàn toàn vào họ, một sự vâng phục con trẻ. Nếu xuất hiện bệnh tật, nguy hiểm, hạn hán hay mưa lũ xâm hại mùa màng, người ta cầu cứu nữ phù thủy, và dù quyết định của bà ra sao: kiêng kỵ khắt khe, thực hành phiền toái, dâng cúng long trọng, không ai dám bất tuân lệnh bà.
Là những đứa con đích thực của rừng rú, người thượng hoan hưởng sự độc lập không gì quấy rầy, chỉ trừ trường hợp điều đó đi ngược lại với toàn thể thị tộc; họ không ngần ngại theo các khuynh hướng tự nhiên của con người sa đọa. Từ đó ta có thể rút ra các khó khăn mà công cuộc Phúc âm hóa nơi họ gặp phải.

3. Ðường Truyền Giáo Tây Nguyên
Ngay từ năm 1765, Giám Mục Guillaume Piguel (1704-1771) đã gửi thừa sai lên truyền giáo miền Kontum, nhưng không thành công.
Năm 1775, Giám Mục Pigneau de Béhaine (1771-1799) gửi một đoàn truyền giáo do linh mục Faulet hướng dẫn tiến vào vùng Tây Nguyên thuộc sắc tộc Xtiêng, người Cuy sống dọc theo sông Chlong, các ngài gặp 2 gia đình Công Giáo đã tới sinh sống tại đây từ trước. Sau khi mua một mảnh đất, các ngài cho dựng một căn nhà vừa làm nơi tạm trú vừa làm nhà nguyện. Vì ngã bệnh, các ngài phải trở về Prambey-Chlom, sau bình phục mới trở lại và rồi lại ngã bệnh một lần nữa. Công việc truyền giáo đành phải bỏ ngang vào mùa xuân 1776.
Nhưng có lẽ công cuộc truyền giáo Tây Nguyên đã thật sự sôi động và đạt thành quả vững chắc lại chính là vào thời kỳ Giám Mục Etienne Théodore Cuénot Thể, giám mục đại diện tông tòa Ðông Ðàng Trong. Chính ngài đã mở đường truyền giáo vùng phía Tây, tức vùng Tây Nguyên ngày nay. Lịch sử truyền giáo vùng này có thể chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: khai sáng.
- Giai đoạn 2: phát triển.
- Giai đoạn 3: xây dựng và kiện toàn

  

II. SƠ LƯỢC CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CỦA HẠT ĐẠI DIỆN TÔNG TÒA KONTUM

 

A – GIAI ĐOẠN KHAI SÁNG (1848 – 1888)


1. ĐỨC CHA STÊPHANÔ CUENOT THỂ, NGƯỜI KHAI SÁNG VÙNG TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN

 
Tình hình Việt Nam đã có nhiều thay đổi từ sau khi Giám Mục Pigneau de Béhaine (9-10-1779) và vua Gia Long qua đời (3-2-1820). Kể từ năm 1825, nhiều sắc lệnh cấm đạo đã được ban hành. Công việc truyền giáo cho đồng bào các sắc tộc từ hướng Tây Ðàng Trong hầu như bị chậm lại, thì từ hướng Bình Ðịnh, Phú Yên lại có phần sôi động hơn. Mặc dù phải chăm sóc đoàn chiên rải rác trên một lãnh thổ rộng lớn, chạy dài từ sông Gianh phân chia hai miền Bắc Nam tới mũi Cà Mau và biên giới Thái Lan, Giám Mục Cuénot Thể vẫn không quên những anh chị em thuộc nhiều sắc tộc khác trên vùng cao. Ðây luôn là ưu tiên trong các chương trình hoạt động của ngài.
Vừa lên kế vị Giám Mục J.L. Taberd năm 1841, Giám Mục Cuénot Thể đã triệu tập Công đồng Gò Thị để ổn định đời sống giáo phận sau nhiều năm cấm cách, đặc biệt, đưa ra hướng mục vụ cảm thông tha thứ và tạo điều kiện cho những anh chị em vì yếu đuối đã sa ngã trong thời cấm đạo. Nhưng chủ yếu vẫn là đào tạo hàng ngũ linh mục bản xứ để đẩy mạnh công việc truyền giáo.
Năm 1839, ngài đã cử hai phái đoàn truyền giáo: một do ông Cả Ninh dẫn đầu khởi hành từ Cam Lộ, Quảng Trị và một do ông Cả Quới lên đường từ Phú Yên. Cả hai đoàn đều thất bại.
Qua năm 1842, phái đoàn ông Cả Quới gồm Cố Duclos và Cố Miche, 11 thầy giảng và 3 giáo dân lại lên đường. Nhưng ai ngờ chỉ mới đi sâu vào vùng dân tộc, ngày 16-2-1842 tất cả đã bị bắt giải về Huế.
Năm 1846, Giám Mục Cuénot Thể gửi 2 linh mục người Việt là linh mục Vận và linh mục Hòa lên mở vùng Buôn Ðôn thuộc Ðăklăk. Tiếp sau là linh mục Fontaine Phẩm được chuyển từ Plei Chư xuống. Năm 1856, tất cả phải rút về Kontum.
Với một ý chí sắt đá, Giám Mục Cuénot không chùn bước, ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác nơi Chúa Thánh Thần. Năm 1848, một năm có tính quyết định đã đến.
Vị mục tử này hướng tới thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Do, còn gọi là An, một chủng sinh vừa tốt nghiệp Ðại chủng viện Pinang về nước. Ngài thấy nơi con người thông minh, quả cảm và khiêm tốn này có khả năng mở đường tiến sâu vào thế giới các sắc dân miền núi phía Tây.

2. THẦY SÁU DO MỞ ĐƯỜNG (1848-1850)

Thầy Do đã khéo léo đóng vai một ngưới đầy tớ trung thành và cần mẫn gánh hàng cho một nhà buôn người Kinh. Sáu tháng đi từ làng này tới làng khác, thầy đã tiếp cận với dân Ba Na, nói được tiếng nói của họ, biết phần nào phong tục tập quán cùng thu thập được ít điều về địa hình địa vật của vùng cao. Thầy mau mắn về Gò Thị tường thuật lại cho vị chủ chăn ngày đêm ngóng chờ tin vui.
Ðược tin vui, Giám Mục cử ngay một đoàn thừa sai lên đường và cắt cử thầy Do làm trưởng đoàn, Một đoàn buôn chính hiệu, có 4 chủng sinh cùng đi. Chính “cái chính hiệu với đồ hàng cồng kềnh của nhà buôn” này đã làm lóa mắt những kẻ tham chặn đường cướp hết. Các vị thừa sai đành phải bỏ chạy lấy người.
Qua năm 1849, lại một đoàn truyền giáo khác lên đường. Ðoàn gồm có linh mục J.P. Combes Bê, 4 thầy giảng và một số chủng sinh. Ði từ Gò Thị, lên Bến, tới trạm Gò, đoàn gặp phải một đàn voi rượt đuổi. Tất cả bỏ chạy tán loạn, thoát được cơn giận của voi, về tới Bình Ðịnh, phái đoàn chạm phải cơn “thánh nộ” của Giám Mục Cuénot. Ðược nghỉ 15 ngày, phái đoàn lại lên đường, lúc đó là đầu năm 1850.
Lên đường lần này có thêm linh mục Fontaine Hoàn (sau gọi là Bok Phẩm) với 7 thầy. Ðến Trạm Gò, tiến vào làng Baham, đi qua làng Kon Bơlu, phái đoàn tiến sâu vào làng Kon Phar. Giám Mục đã ân cần dặn dò nhiều lần “nhớ” phải tránh đường mòn của các lái buôn người Kinh, phải tránh tù trưởng Bok Kiơm kiêm chức vị “quan triều đình Huế” có nhiệm vụ chặn đường xâm nhập của các thừa sai.
Ngày núp, đêm đi, vạch rừng, lội suối, leo đèo, với đủ thứ đe dọa của rừng thiêng nước độc, của khí hậu, của thú dữ. Lệnh “không được trở lại” vẫn văng vẳng bên tai. Nhưng “Ðất động! Trời sập! Ðoàn gặp đúng Bok Kiơm! Biết làm sao bây giờ? Hồn xiêu, phách lạc, hết đường “chạy trốn”, cả đoàn như chết đứng giữa trời! Chính lúc đang đứng đơ như những tượng gỗ, thì “con người hung dữ kia lại lên tiếng trước: “Sao? Quý vị là ai? Cứ nói thật đi, tôi sẽ giúp cho!”
Thế là lại thêm một bất ngờ nữa! Thay vì đi hạch họe, bắt nộp cho triều đình, Bok Kiơm lại tỏ ra thân thiện ngay. Có lẽ cũng chính cái vẻ mất hồn khiếp vía trên các khuôn mặt những con người không có một tham vọng nào khác ngoài tình thương mà liều mình đi đến với những anh chị em miền đất xa lạ, nên con người “đáng khiếp” kia bỗng trở thành “con người dễ thương”. Ông đã trở thành một Cyrus miền truyền giáo Tây Nguyên! Phái đoàn tiếp tục đi vào làng Kon Kơlang.
Ngày 11-11-1850, thầy Thám, em thầy Do, dẫn một nhóm truyền giáo khác lên Kontum. Cùng đi có linh mục P. Dourisboure Ân (25 tuổi), linh mục B. Desgouts Ðề (45 tuổi). Họ đi theo lộ trình Gò Thị – Bến – trạm Gò – Bơham – Bơlu – Kon Phar để tới Kon Kơlang. Tại đây, anh em gặp nhau mừng vui khôn xiết. Tất cả bắt tay dựng căn nhà 2 gian: một gian để ở, một gian làm nhà nguyện. Công việc truyền giáo Tây Nguyên bắt đầu một trang sử mới với nhiều hứa hẹn, nhưng cũng đầy khó khăn!

3. PHÂN ĐỊNH VÀ THÀNH LẬP CÁC TRUNG TÂM MIỀN TRUYỀN GIÁO (1851)

Sau một thời gian dò dẫm, tìm hiểu với sự giúp đỡ chân tình của Bok Kiơm, các vị thừa sai đã tới được miền Ðất Hứa năm 1850, chính là cánh đồng Ðăk Bla như Ðức giám mục hằng chờ mong. Năm sau, ngài quyết định thiết lập ngay 4 trung tâm truyền giáo và đặt linh mục Combes Bê làm bề trên miền.
- Trung tâm Plei Rơhai: do linh mục Bernard Desgouts và thầy Sáu Do phụ trách lo truyền giáo cho bộ tộc Bahnar. Ðịa điểm nằm ngay địa sở Tân Hương ngày nay. Sau ít tháng, thầy Sáu Do được gọi về Gò Thị chuẩn bị lãnh tác vụ linh mục. Năm 1853, linh mục Do trở lại trung tâm và tiến hành xây dựng nhà thờ Plei Rơhai. Ngài phát động mô hình nông trang trên miền đất này để cải thiện cuộc sống của đồng bào dân tộc và để tự túc lương thực phòng đường tiếp tế từ vùng xuôi khi bị cắt đứt! Giám Mục còn chỉ thị cho linh mục Desgouts mở ngay Chủng viện thừa sai Miền Kontum trong khi miền xuôi đang bị cấm cách gắt gao. Nhưng vì khí hậu khắc nghiệt, chủng viện đã không trụ lâu được.
- Trung tâm Kon Trang: Nằm phía Bắc Kontum, được trao cho linh mục P. Dourisboure Ân phụ trách để truyền giáo cho bộ tộc Xơ Ðăng. Ngài hăng say học tiếng và La Tinh hóa chữ viết Xơ Ðăng làm phương tiện tiếp xúc và truyền giáo. Một năm sau, Giám Mục đã tăng cường cho trung tâm một vị thừa sai mới, linh mục Arnoux A. Ngày 1-1-1852, Linh mục Dourisboure Ân đã ban phép Thanh Tẩy cho một em bé sơ sinh. Ðây là hoa trái đầu mùa. Vào ngày 16-10-1853, hai thiếu niên Giuse Ngui, 12 tuổi (+ 1857) và Gioan Pat, 9 tuổi, được lãnh nhận phép Thanh Tẩy.
- Trung tâm Plei Chư: Nằm phía Tây Kontum. Linh mục Fontaine Hoàn (Bok Phẩm) phụ trách trung tâm lo loan báo Tin Mừng cho bộ tộc Gia Rai. Năm 1854, Giám Mục thuyên chuyển ngài xuống Pơnong (M’nông) – Trung tâm Buôn Ðôn – ở Ðăklăk – làm việc với linh mục Hòa và linh mục Vận. Nhưng chẳng được bao lâu ngài cũng phải rút về lại Kontum.
- Trung tâm Kon Kơxâm: được trao cho linh mục Bề trên đầu tiên Miền Truyền Giáo, linh mục J.P. Combes. Nằm về phía Ðông Kontum, trung tâm có nhiệm vụ giảng đạo cho anh chị em Bahnar JơLơng. Ngài chọn Ðức Bà Cứu Chữa làm bổn mạng trung tâm, ngài cũng bắt tay ngay vào công việc La Tinh hóa chữ viết. Năm sau, ngài soạn xong cuốn Giáo Lý và Sách Kinh bằng tiếng Bahnar. Qua năm 1853, cả làng Kon Kơxâm tòng giáo và ngày 28-12-1853, ngài đã ban phép Thanh Tẩy cho ông Giuse H’Mur. Ðây là người tín hữu Bahnar đầu tiên. Nhưng ngài đã qua đời 5 năm sau (1857), khi mới 32 tuổi. Trách nhiệm bề trên chuyển qua vai linh mục P. Dourisboure.

4. MÁU GIÁM MỤC CUENOT THỂ ĐÃ ĐỔ, TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN NỞ RỘ
Giám Mục Cuénot Thể đảm nhận giáo phận rộng lớn Ðàng Trong đúng vào thời điểm cấm đạo gắt gao nhất. Các phương thức cấm cách thật tinh vi, nhắm tiêu diệt từng đối tượng theo từng giai đoạn khác nhau. Ngài điều khiển giáo phận từ hầm trú ở Gò Thị, ngài làm việc ngày đêm để nắm vững tình hình giáo phận, nhưng không thể xuất hiện công khai hoặc đi lại tự do. Dù số nhân sự ít ỏi, ngài vẫn dành cho miền truyền giáo này nhiều vị thừa sai. Ngài cũng không ngừng cổ vũ và vun trồng ơn gọi linh mục bản xứ.
Ðể đẩy mạnh công cuộc truyền giáo, ngài đã xin Tòa Thánh chia nhỏ địa phận.
- Ðợt 1: Năm 1844, chia địa phận Ðàng Trong thành Ðông Ðàng Trong và Tây Ðàng Trong.
- Ðợt 2: Năm 1850, chia địa phận Ðông Ðàng Trong thành Bắc Ðàng Trong và Ðông Ðàng Trong; chia Tây Ðàng Trong thành Tây Ðàng Trong và Nam Vang. Kontum vẫn thuộc Ðông Ðàng Trong, tức giáo phận Quy Nhơn sau này.
Trong khi miền xuôi còn bị cấm cách, thì trên cao nguyên các làng dân tộc “đua nhau” trở lại. Khởi đầu là làng Kon Klor (1886), tới Kon Hngo Kơtu (1887). Chỉ trong 21 năm, đã có tới 94 làng trở lại. Có năm tới 12 làng (1893), 14 làng (năm 1895) hoặc như năm 1897, ngoài 14 làng Bahnar, Xơ Ðăng xin theo đạo, còn có cả một số làng bộ tộc Ê Ðê cũng xin tòng giáo. Kết quả thật tốt đẹp. Sức người theo không kịp. Trước một tình hình sôi động như thế, các vị chủ chăn đã đẩy mạnh việc đào tạo nhân sự bản xứ. Ðây là giai đoạn hình thành trường đào tạo Yao Phu và hình thức Nhà Chung sau này. Ðúng như Tòa Thánh đã tiên liệu và chỉ đạo: “phải ưu tiên làm sao cho sớm có người bản xứ truyền đạo và phục vụ người bản xứ!”.
Ý thức tầm quan trọng của chỉ thị trên, linh mục J.L. Bonnard Hương quy tụ một số thanh niên dân tộc nhằm đào tạo họ thành các giáo lý viên cho các họ đạo. Công việc và chương trình này chỉ thật sự được tổ chức và đẩy mạnh nhờ sự được tổ chức và đầy mạnh nhờ quyết tâm cao của linh mục Martial Jannin Phước. Năm 1905, ngài xúc tiến xây dựng trường đào tạo các Yao Phu và khánh thành ngày 7-1-1908. Linh mục M. Jannin Phước là vị giám đốc đầu tiên. Chính ngài đã dám nghĩ dám thực hiện mẫu người Yao Phu. Ngài là linh hồn của công trình trọng điểm này. Năm 1911, tạp chí Hlabar Tơbang đã được phát hành để hỗ trợ cho công việc đào tạo.
Từ trường này, nhiều thanh niên dân tộc đã chọn đời sống tu trì. Cụ thể, ngày 29-6-1932, ba thanh niên Bahnar đầu tiên đã lãnh nhận tác vụ linh mục: đó là các linh mục Micae Hiâu (1900-1949), linh mục Giuse Châu (1900-1955), linh mục Antôn Ðen (1903-1987). Một trong 3 vị đã có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử giáo phận Kontum: linh mục Antôn Ðen, một nhà trí thức, một học giả Bahnar. Ngài đã dành suốt một đời dịch Thánh Kinh, dịch sách phụng vụ, viết hạnh các thánh và phụ trách tờ Hlabar Tơbang. Ngài âm thầm, chăm chỉ làm việc cho tới giờ phút cuối đời. Một kho tàng hiếm có của giáo phận! Giáo phận biết ơn ngài, biết ơn các bậc linh mục anh đã đào tạo được một người làm việc trí óc không biết mệt mỏi như thế!

B – GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN (1888 – 1905)


image004

Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên ngày càng phát triển. Nhiều người đã xin trở lại. Trong khi ở miền xuôi, cuộc bắt đạo vẫn đang diễn ra quyết liệt, thì các làng dân tộc dần dần đã tìm được hướng đi nhờ sức sống của Hạt Giống Tin Mừng và nhờ những hy sinh lớn lao của các Linh mục thừa sai và giáo dân.

NHÀ THỜ CHÍNH TÒA KON TUM TRÒN 100 NĂM TUỔI (1913-2013)



Năm 2013 - kỷ niệm tròn 100 năm Nhà thờ Chính tòa-Gỗ Kon Tum được xây dựng (1913-2013). 
“NHÀ THỜ CHÍNH TÒA KONTUM NHƯ DI SẢN CHẲNG NHỮNG CỦA TỈNH KONTUM, MÀ CÒN MANG TÍNH THẾ GIỚI CÓ MỘT KHÔNG HAI VỀ NHIỀU MẶT: NHƯ LÀ MỘT KIẾN TRÚC ĐỘC ĐÁO TẦM CỠ QUỐC TẾ, NHẤT LÀ DI SẢN TÔN GIÁO VỀ MẶT TÂM LINH, BẢO TỒN VĂN HÓA, NGÔN NGỮ, CHỮ VIẾT, ÂM NHẠC…. TRONG MỘT VÙNG ĐẤT NHIỀU BẢN SẮC DÂN TỘC (Lm Nguyễn Hoàng Sơn).
kontumquehuongtoi trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu sau đây của Lm Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn, trưởng Ban Truyền Thông GP Kon Tum. Bài viết đã được đăng tải nhiều lần, mới đây được đăng lại trên trang web của Gp Kon Tum: http://giaophankontum.com, ngày 30.12.2012.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa.

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

ĐÊM CANH THỨC GIÁNG SINH 2012 TẠI TP. KON TUM


Quang cảnh các Nhà thờ quanh Tp Kontum đêm 24/12/2012


Chương trình Canh thức Giáng Sinh tại Nhà thờ Tân Hương











 Thánh lễ Đêm24/12/2012 tị Nhà thờ Tân Hương, Kontum


 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2013



Trước thềm Năm Mới 2013, kontumquehuongtoi xin kính chúc toàn thể Quý Vị và Các Bạn xa gần một năm mới An Khang - Thịnh Vượng - Hạnh Phúc, tràn đầy Ân Lộc của Thượng Đế.

Lê Minh Sơn - krongblah.blogspot.com

--------------------------------------

Một số hình ảnh, thiệp đẹp chúc giáng sinh và mừng Năm Mới - Quý Tỵ 2013

happy-new-year-2013

thiep-chuc-mung-nam-moi-2013

anh-dep-chuc-mung-nam-moi-2013-new_year_wallpaper_2013-3

anh-dep-chuc-mung-nam-moi-2013-happy-new-year-2013-1

anh-dep-chuc-mung-nam-moi-2013-giang-sinh-Happy-new-Year-2013

thiep-chuc-mung-nam-moi-2013-1

chuc-mung-nam-moi-quy-ty-2013 

chuc-mung-nam-moi-2013

thiep-giang-sinh-va-chuc-mung-nam-moi-2013


thiep-dep-chuc-mung-nam-moi-2013anh-dep-chuc-mung-nam-moi-quy-ty-2013


------------------------------------






Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Kon Tum : Thêm vài hình ảnh Giáng Sinh 2012


Kontumquehuongtoi xin giới thiệu những bức ảnh chụp các nhà thờ rất đẹp của Ảnh viện Mỹ Lai, đường Trần Hưng Đạo, Tp. Kon Tum [cameraman : Phạm Quang Tuyến].








Nhà thờ Chính tòa - Gỗ

Đêm Hoan Ca Mừng Chúa Giáng Sinh 2012 Tại Giáo Xứ Võ Lâm - Kontum



Từ xa xưa, vào dịp Giáng sinh, Giáo phận Kontum có truyền thống tổ chức ĐÊM HOAN CA MỪNG CHÚA GIÁNG SINH.  Vào thời Đức Cha Jannin (Phước) còn là Bề Trên Trường Cuénot (khoảng 1908-1925...), tại Giáo phận đã tổ chức Hội Diễn Mừng Chúa Hài Đồng Xuống Thế Làm Người với nhiều hình thức và thể loại : diễn tuồng, kịch, đánh coòng chiêng, xoang vũ điệu dân tộc, hát thánh ca.v.v. Từ đó về sau, mỗi lần Giáng Sinh về, mọi Giáo xứ trong Giáo phận đều tổ chức ĐÊM CANH THỨC GIÁNG SINH, ĐÊM HOAN CA MỪNG CHÚA GIÁNG SINH.

Trải qua khoảng thời gian khá lâu không tổ chức liên giáo xứ, đến Noel 2011, Đêm Hoan Ca Mừng Chúa Giáng sinh lần đầu tiên được nối lại tại Giáo xứ Phương Nghĩa, do cha Luis Nguyễn Hùng Vị, được sự ủng hộ của một số cha phụ trách các xứ đạo chung quanh như: Plei Rơhai, Kon Rơbàng, Tân Hương, Trung Nghĩa, Chính tòa, Võ Lâm, vào ngày 25.12.2011.

Giáng sinh năm nay 2012, Giáo xứ Võ Lâm tiếp tục đăng cai tổ chức “HỘI DIỄN ĐÊM HOAN CA MỪNG CHÚA GIÁNG SINH” (25.12) có sự tham dự của một số Giáo xứ trong Giáo hạt Kontum: Võ Lâm chủ nhà, Tân Hương, Phương Nghĩa, Kon Rơbàng, Hiệp Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Kontum... Đêm Hoan Ca gồm 14 tiết mục với nhiều thể loại khác nhau.

Sau đây, lần lượt là một số tiết mục được trình diễn trong ĐÊM HOAN CA MỪNG CHÚA GIÁNG SINH dưới dạng YouTube. 


I – PHẦN GIỚI THIỆU NỘI DUNG CỦA ĐÊM HỘI DIỄN VỚI NHỮNG TIẾT MỤC.



 



II -      + VŨ KHÚC : “MỪNG CHÚA GIÁNG SINH”
            + ĐƠN CA : “NGÔI HAI RA ĐỜI”



 




III + ĐỘI TRỐNG TRẮC BIỂU DIỄN
      + HỢP XƯỚNG BẰNG TIẾNG BAHNAR VỚI TỰA ĐỀ “CAROL OF THE DRUM” KÈM THEO VŨ ĐIỆU
      + HỌP XƯỚNG “NỬA ĐÊM MỪNG CHÚA RA ĐỜI”





IV –    + VŨ KHÚC : “TRỜI HÂN HOAN”
          + ĐƠN CA: “MẸ TRUYỀN TIN”
          + HỢP XƯỚNG “MƯNG CHÚA RA ĐỜI

 

V –  +  HỢP XƯỚNG VÀ THỔI SÁO: “HỘI NHẠC THIÊN QUỐC”
        + LIÊN KHÚC : ” NHÌN XEM CHÚ BÉ  VÀ GIÁNG SINH KHÓ NGHEO.
        + VŨ KHÚC : ” THẮP LỬA CHO ĐỜI”

  

VI -  + ĐỌC TẤU TIÊU “ĐÊM NGUYỆN CẦU”
         + LIÊN KHÚC “GIÓ MÙA ĐÔNG VỀ”.
         +  SONG CA  “XANH TRỜI NOEL”

 


VII – + HOAN CA ĐỒNG VÚ : “THIÊN THẦN ĐÊM GIÁNG SINH”.
          + NHỮNG LỜI CHIA SẺ CỦA QUÍ CHA.
          + THAY MẶT GIÁO XỨ, ÔNG CÂU CÓ ĐÔI LỜI  XIN CẢM ƠN.
          + QUÍ CHA BAN PHÉP LÀNH CHÚC BÌNH AN



(Nguồn tin : giaophankontum.com, ngày 26 & 27.12.2012).

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Thư Mục Vụ Của Giám Mục Kon Tum Mừng Chúa Giáng Sinh 2012



TÒA GIÁM MỤC KON TUM
146 Trần Hưng Đạo – Kon Tum – Việt Nam
Số 102/VT/’12/tgmkt

Kontum, ngày 22 tháng 12 năm 2012

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH 2012

Kính gửi: Lm Phêrô Nguyễn Vân Đông
Tổng Đại Diện Giáo Phận Kontum
cùng toàn thể gia đình Giáo Phận.

Giáng Sinh đã về, niềm vui bao trùm cả thế giới. Xin cầu chúc Đức Cha Phêrô, Cha Tổng và toàn thể anh chị em trong gia đình Giáo Phận luôn là những hang đá Bethléem sống động có sức giới thiệu Chúa Cứu Thế cho mọi người chúng ta gặp trong cuộc sống. Xin cho cuộc sống của mỗi chúng ta được thấm nhuần sứ điệp Giáng Sinh “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương”(Lc 2,14) qua đời sống yêu thương phục vụ trong niềm tin vào một Thiên Chúa là Cha.
I. Thực trạng của thế giới hôm nay
1. Anh chị em thân mến, chúng ta thử đi rảo qua các làng mạc, thôn xóm, hẳn sẽ cảm nghiệm được phần nào niềm vui của ngày Chúa xuống trần gian: đèn, hoa, cây giáng sinh, pa-nô… Tuy mang nét hình thức, nhưng chúng ta cũng không chối bỏ những gì chất chứa bên trong, đđó là đời sống tâm linh, là niềm tin của con người thời đại.
2. Tuy nhiên, khi xem xét lại thực tại thế giới ngày nay, Hội Đồng Giám Mục Á Châu trong kỳ họp thứ 10 tại Giáo phận Xuân Lộc vừa qua đã đưa ra một số những thách đố của con người thời đại. Một trong những thách đố đó là: Thiên Chúa ngày càng trở nên ít quan trọng trong đời sống con người. Đây là thách đố nền tảng và cơ bản khiến dẫn đến những thách đố khác như:
· Thiên Chúa có hại, cần loại bỏ: Chủ nghĩa vô thần duy vật dường như thống lĩnh và chi phối biến con người thành ích kỷ, vô cảm, còn xã hội thành ra khô khan cằn cỗi. Thực ra Thiên Chúa luôn muốn con người biết sống yêu thương, liên đới và chia sẻ. Do đó, tin vào Thiên Chúa đâu có kìm hãm con ngươi phát triển như nhiều người đương thời vẫn tưởng!
· Thiên Chúa tương đối: Lại có những người chủ trương: Thiên Chúa có cũng được, không có cũng chẳng sao! Họ vái bất kỳ đấng nào, miễn là có lợi. Vì thế, “hữu sự vái tứ phương”. Một lối cào bằng “Xấu đều hơn tốt lỏi”. Cần thì cần đó, nhưng cần vậy thôi.
3. Lý do nào khiến dẫn đến tình trạng này? Thánh Gioan đã cho câu trả lời: “Người ở giữa thế gian… nhưng thế gian lại không nhận biết Người” (Ga 1, 10). Thiên Chúa là Đấng Vĩnh Hằng, trong khi con người lại đặt Ngài trong không gian, thời gian. Tình yêu của Ngài vượt lên mọi suy nghĩ của con người, trong khi đó con người muốn cân-đong-đo-đếm.
II. Thử tìm một giải pháp
4. Hằng năm, khi Giáng Sinh về, chúng ta được mời gọi lên đường, được mời gọi ra đi đem Chúa đến cho những người anh chị em chưa nhận biết Chúa. Nhưng rất tiếc, đôi khi chúng ta làm việc như những nhân viên xã hội: phát quà, tổ chức rầm rộ… Thiết nghĩ điều này cũng tốt, nhưng chưa đủ. Ta chưa đong đầy nơi mình tình yêu của Ngôi Hai Giáng Thế, làm sao ta có thể trao ban trọn vẹn cho những người anh em của ta? Nơi ta chưa ngập tràn Thánh Thần Chúa thì làm sao ta có thể chuyển giao Tin Mừng Cứu Độ? Chính Chúa Giêsu chẳng phải đã ngập tràn Thánh Thần mới đến thế gian sao? “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, mà Người xuống thai…” (kinh Tin kính). Cụ già Simêon, bà Anna chẳng phải nhờ Thánh Thần mới đến gặp trẻ Giêsu đó sao? (x.Lc 2, 25-28).
5. Như vậy, tôi mời gọi anh chị em, những nhà giáo dục, hãy liệu sao cho mình được tràn đầy Thánh Thần, đầy Lửa Tình Yêu, Lửa sưởi ấm Hài Nhi Giêsu cháy trong mình. Hãy quan tâm tới giáo dục, nhất là giáo dục cõi lòng, giáo dục cái tâm cùng với khối óc, để thế giới này nhận biết Cha là Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha sai đến là Đức Kitô (x. Ga 17,3). Cách riêng với những bậc làm cha mẹ và các thầy cô giáo hãy làm sao cho con cái mình nhận ra được Thần Khí. Chỉ có như thế ta mới thấy cần Thiên Chúa, mới tránh được những huỷ hoại về đời sống tâm linh cho các thế hệ sau này.
Sứ mạng Cùng với Thánh Thần chúng tôi làm chứng (x. Cv 5, 32) là bản chất của Đạo, của mỗi Kitô hữu. Chúng ta phải thi hành mới tìm được nguồn hạnh phúc đích thật. Đức tin dạy chúng ta như thế; đức tin đòi buộc chúng ta như thế. Trong Thánh Thần ta trở nên những chứng tá sống động cho niềm tin của mình.
6. Cha Tổng và anh chị em thân mến,
Chúng ta đã bắt đầu bước vào ngày thứ 72 của Năm Đức Tin (11.10.2012- 22.12.2012). Năm đức tin là cơ hội thuận tiện giúp mỗi chúng ta cảm nghiệm cái phúc được biết Chúa. Càng nhận thức sâu xa sứ mạng chia sẻ, chúng ta càng hăng say chuyển đạt đức tin cho tha nhân. Nhất là sống đức tin qua đời phục vụ, chúng ta góp phần tích cực xây dựng một xã hội ngày văn minh đượm tình thương yêu nhờ Thần Khí. Hãy chúc cho nhau một Mùa Giáng Sinh và Năm Mới sống đức tin mạnh mẽ, thiết thực cùng hăng say thi hành sứ mạng được sai đi loan báo Tin Mừng yêu thương trong quyền năng Thánh Thần. Hãy không ngừng rao giảng Tin Mừng để mọi người được Thần Khí mà sống trong hạnh phúc xứng phẩm giá con người có niềm tin yêu (bình an dưới thế) và danh Chúa được mọi người biết tới (vinh danh Thiên Chúa) như các thiên sứ đã hát vang trong đêm Giáng Sinh đầu tiên và nhân loại đang không ngừng lập lại :
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14).

             Hiệp thông,

+ Micae Hoàng Đức Oanh
Giám Mục Giáo Phận Kontum. 

(Nguồn tin: www.http://giaophankontum.com/Tin-Tuc-594_Thu-Muc-Vu-Cua-Giam-Muc-Kon-Tum-So-102VT%E2%80%9912tgmkt.aspx)

KON TUM: MỘT VÀI HÌNH ẢNH NOEL 2012



Nhà thờ Chính tòa - Gỗ

Nhà thờ Phương Nghĩa

Nhà thờ Kon Jơdreh

Nhà thờ Võ Lâm

Nhà thờ Tân Hương














Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Vùng đất sanh ra anh - Thơ: Mưa Phố Núi


Vùng đất sanh ra anh


Không phải người Kon Tum !
chỉ một buổi chiều dừng chân
Em ghé chơi để hồn mình đi lạc...
nhận diện anh - một trái tim cổ tích
Chẳng thể lẫn lộn vào đâu giữa muôn ngàn người.

Anh !
người trai của đất Kon Tum
kiên cường và bất khuất
lạ lùng và thân thuộc
Mới quen như đã biết rồi muôn kiếp trước.

Những cụm nắng reo vui_rượt đuổi nhau trên tàng cây rợp bóng
Gió thênh thang_hoan hỉ sau chuỗi ngày mưa liên miên
Chúng ta đã gặp nhau_giữa khát khao bỡ ngỡ
Nên bây giờ Kon Tum không ranh giới trong em.

Cùng là người Tây Nguyên
chung nắng đồi gió núi
Cũng hai mùa mưa nắng luân phiên
Chia nhau bùn đỏ lấm lem buồn tủi
Ta xẻ san nhọc nhằn - mang vác từ hôm qua.

Em không thể phân biệt ngọn gió nào đến từ Kon Tum - anh
Cơn mưa nào về từ em - phố núi.
Dẫu Gia Lai-Kon Tum thành hai mảnh đời riêng lẻ rồi !

Hình như mưa Kon Tum dai dẳng hơn ?
Hình như gió Kon Tum bạt ngàn ?
Hình như nắng Kon Tum hanh vàng hơn nơi khác ?
Nên anh nồng nàn hơn người ta
Đa tình hơn tất cả !

Cám ơn Kon Tum nhé_vùng đất mẹ sanh ra anh.
Một người đàn ông như bao đàn ông trên đời
Lạ lẫm vô cùng trong cõi thơ em !

Đất Kon Tum nhỏ bé - sao tình anh nặng thế ?
Thành phố nhỏ xíu xiu - vẫn góp mặt anh hùng.

Không có tuổi
Chưa được đặt tên
Thì trong trái tim em thôi nhé,
Kon Tum là anh ! Anh hùng của chỉ riêng em.

Cám ơn mảnh đất đã ban em huyền thoại
Trân quý trái tim anh - dành cho em một nhịp đập khác thường.
Mưa phố núi 1-12-2012



 ( tặng các chàng trai của đất Kon Tum...)

(Nguồn : nhuygialai.com)


Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

BÊLEM, THÀNH PHỐ CỦA ĐẤNG CỨU THẾ


Lm. Nguyễn Minh Chính biên dịch

Thành phố Bêlem hiện nay

Ngôn sứ nào đã loan báo rằng Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem?

Theo các sách Samuel (1 và 2 Sm), vua Đavít là con trai của ông Giêsê ở Bêlem. «Đức Chúa phán với ông Samuel: "Ngươi còn khóc thương Saul cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Israel nữa? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Giêsê người Bêlem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." (1 Sm 16,1)

Đavít, chào đời tại thị trấn nhỏ Bêlem[1], được ngôn sứ Samuel xức dầu phong vương (thánh hiến bằng dầu). Triều đại của ông đã ảnh hưởng nhiều đến dân tộc Israel đến độ họ bắt đầu loan truyền rằng Đấng Cứu Thế sẽ là một hậu duệ của vua Đavít (Is 11,1: “Từ gốc tổ Giesê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non”). Ngôn sứ Mikha xem Bêlem như là quê hương của Đấng Cứu Thế tương lai :

Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa” (Mk 5,1)

Như vây, Đấng Cứu Thế sẽ xuất thân từ Bêlem như vua Đavít.

Trong Tin Mừng Thánh Matthêô, các thủ lãnh tôn giáo cố vấn cho Hêrôđê dùng lời tiên tri này để chỉ ho các đạo sĩ nơi chào đời của con trẻ được xem như là vua dân Do Thái (Mt 2,1-6).

Còn Tin Mừng Thánh Luca liên kết vua Đavít với Đức Giêsu khi thuật lại cuộc sinh hạ của Chúa: “Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít” (Lc 2,4)

Trong tiếng hébreu, Bêlem có nghĩa là “ngôi nhà bánh”. Thánh Bernard de Clairvaux[2]  đã suy diễn ý nghĩa biểu tượng của thị trấn này khi nói rằng Chúa Giêsu sinh ra ở Bêlem là «Bánh hằng sống từ trời xuống» (Thánh Bernard, Éloge de la nouvelle milice, ch. 6).

Ngày nay, Bêlem là một thành phố Ả Rập thuộc lãnh thổ Palestine. Từ lâu đã xuất hiện một bức tường cao ngăn cách phần đất của người Do Thái với người Palestine. Thành phố nhỏ bé này, giờ đây là một trong những địa điểm xung đột nhất của hành tinh. Nơi đây có Vương cung Thánh đường Giáng Sinh và là nơi cử hành lễ Giáng Sinh một cách rất đặc biệt.

(Theo Sébastien Doane, Interbible)

[1] Trong Kinh Thánh, có hai nơi được gọi là Bêlem. Nơi ít được biết đến ngày nay được gọi là Beit-Lahm, ở Galilê, cách Nazarét 10 km về phía bắc. Hai đoạn Kinh Thánh nói về nơi này là Gs 19,15 (“Ngoài ra, còn có Cáttát, Nahalan, Simrôn, Gítala và Bêlem: đó là mười hai thành và làng mạc của các thành ấy”) và Tl 12,10 (“Rồi ông Ípxan qua đời và được chôn cất tại Bêlem”). Nhiều người đưa ra giả thuyết cho rằng Chúa Giêsu được sinh ra ở Bêlem Galilê này để hợp với truyền thống về Chúa Giêsu được sinh ra tại Bêlem và được gọi là người Galilê.   
[2] Thánh Bernard de Clairvaux, Đấng sáng lập Dòng Cistercien (1090-1153).





Bức tường cao chia cắt hai phần lãnh thổ



Cử hành lễ Giáng Sinh trọng thể tại Bêlem




Lời chúc mừng Giáng Sinh trên bức tường Bêlem

Nguồn: Gpquinhon.org