Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ôn cố tri tân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ôn cố tri tân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2024

TÂM LÝ NGÀY TẾT - Tác giả: Phạm Quỳnh



"Tâm lý ngày Tết" của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng
Pháp nhan đề “Psychologie du Tet”,
đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924,
bản dịch của Nguyên Ngọc.
___________________


TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.
Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.
Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!
Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?
Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.
Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.
Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.
Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.
Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.
Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2024

Ai là thủ phạm đã đốt chết mấy trăm giáo dân Thiên Chúa Giáo ở Biên Hòa và Bà Rịa vào năm 1861-1862?

 


Tại Nam Kỳ dưới thời vua Tự Đức vào khoảng thời gian 1861-1862, có hai vụ án mạng lớn xảy ra tại hai nơi, Biên Hòa và Bà Rịa. Trong hai vụ án này, có đến mấy trăm người Việt đã bị đốt chết tập thể. Thế nhưng hai vụ án mạng trọng đại này lại không hề được nhắc đến trong chính sử Việt Nam, mãi cho đến ngày hôm nay.

Bài viết này sẽ mở ra việc tìm hiểu và đi đến kết luận rằng ai là thủ phạm của hai vụ án mạng nghiêm trọng đó.

Sau khi phá vỡ chiến lũy Chí Hòa tại Sài Gòn vào tháng 2 và chiếm thành Mỹ Tho vào tháng 4 năm 1861, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chuyển tầm ngắm sang Biên Hòa, tỉnh cuối cùng của ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường). Tháng 11 năm 1861, Đề Đốc (Contre-Amiral) Louis Adolphe Bonard được cử sang Nam Kỳ để thay thế cho Phó Đô Đốc (Vice-Amiral) Leonard Victor Charner làm chỉ huy liên quân Pháp – Tây. Giữa tháng 12 năm 1861, dưới sự chỉ huy của Bonard và đại tá Tây Ban Nha Carlos Palanca Gutiérrez, liên quân Pháp-Tây chiếm luôn thành Biên Hòa của nhà Nguyễn.

Nhưng có một điều khác biệt rất lớn giữa cuộc tấn công thành Biên Hòa lần này với các lần chiếm thành Gia Định và Mỹ Tho trước đó. Sự khác biệt là sau khi vào thành Biên Hòa thì liên quân Pháp – Tây tìm thấy những thi thể chết cháy của mấy trăm giáo dân Thiên Chúa Giáo người Việt. Những người này đã bị ngọn lửa thiêu chết vào đêm hôm trước.

Và đây là một sự kiện lịch sử mà rất ít người Việt được biết. Có thể nói đây là một góc khuất trong lịch sử Việt Nam, vì sử Việt do vô tình hay cố ý đã không hề nói gì đến sự kiện này. Các sách sử của người Việt, khởi đầu từ bộ sử chính thống Đại Nam Thực Lục Chính Biên của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, đến các tác phẩm thuộc loại "kinh điển" về sau như Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, hoặc thậm chí đến những bài viết thuộc loại nghiên cứu sâu hơn về thời kỳ này trong cuốn "Kỷ Niệm 100 Năm Pháp Chiếm Nam Kỳ" – hoàn toàn không có một dòng nào về hai vụ án mạng nói trên tại Biên Hòa và Bà Rịa.

Nhưng gần đây, trong một bài viết tại Việt Nam ngày 3/6/2016 với tựa đề "Bí Ẩn Chưa Biết Về Dấu Tích Mộ Tập Thể Dựng Tóc Gáy Ở Biên Hòa" [1], tác giả Trí Bùi đã sử dụng những tài liệu được cung cấp bởi nhà nghiên cứu Lê Ngọc Quốc tại Biên Hòa để cho biết rằng ngay tại trung tâm thành phố Biên Hòa có một nơi đã từng là mồ chôn tập thể của hơn 400 giáo dân người Việt; và những người này đã bị đốt chết bởi quan quân nhà Nguyễn khi quân Pháp đánh chiếm thành Biên Hòa vào tháng 12 năm 1861.

Ngay sau đó, để trả lời bài viết của Trí Bùi, nhà nghiên cứu Tôn Thất Thọ, với bút hiệu Tôn Châu Quân, đã viết bài "Đâu Là Sự Thật Lịch Sử" đăng trên Tạp Chí Xưa Và Nay, số tháng 3 năm 2017. Cũng chính bài viết này đã được ông cho lên trang mạng Nghiên Cứu Lịch Sử (nghiencuulichsu.com). Và theo kết luận của ông Tôn Thất Thọ trong bài viết thì:

"Như thế đã rõ. Sự thật lịch sử đã được tuần báo Pháp phổ biến sau sự kiện trên chưa tròn 2 tháng!: Lửa cháy là do chiếc pháo hạm của thực dân Pháp nổ đại pháo gây nên; hậu quả làm 75 (sic) người chết. Quan quân nhà Nguyễn không thể chống cự nổi nên phải bỏ chạy." [2]

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2024

Lá Thư Penang Của Petrus Trương Vĩnh Ký – 1859

 


Winston Phan Đào Nguyên, Esq.; L.M. Nguyễn Công Đoan, SJ, L.M. Trần Quốc Anh, SJ,

chuyển dịch Việt ngữ và chú thích

PHẦN 1

GIỚI THIỆU LÁ THƯ PENANG

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ AN NAM – NAM KỲ TRONG GIAI ĐOẠN 1859-1860

Petrus Trương Vĩnh Ký sanh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại Cái Mơn, Vĩnh Long, dưới thời Minh Mạng. Năm 1845, vào tiểu chủng viện Cái Nhum học với linh mục Henri Borelle (tên Việt là Hoà). Năm 1849, học với linh mục Charles-Émile Bouillevaux (tên Việt là Long) lúc đó mới từ Pháp sang Cái Nhum. Năm 1850, đi cùng linh mục Bouillevaux sang học tại chủng viện Pinhalu bên Cao Miên. Năm 1851, được nhận vào học ở đại chủng viện (Trường Chung) ở Penang (Poulo Pinang, Pulau Penang) tại Mã Lai (Malaysia). Năm 1858, trở về Cái Mơn sau khi mẹ chết. 

Vào khoảng thời gian này, liên quân Pháp – Tây (Ban Nha) bắt đầu tấn công Đà Nẵng.  Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1858, dưới quyền chỉ huy của Phó Đô Đốc (Vice Amiral) Rigault de Genouilly, liên quân chiếm bán đảo Sơn Trà và bắt đầu cuộc chiến với triều đình nhà Nguyễn. Sau khi thấy không thể tiến đánh Huế được, Rigault de Genouilly chuyển hướng qua tấn công Nam Kỳ. Ngày 18 tháng 2 năm 1859, liên quân chiếm thành Gia Định.

Một trong những phản ứng đầu tiên của Triều đình Huế là gia tăng việc bắt đạo ngay sau khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng. Trong hoàn cảnh đó, vào mùa thu năm 1858, sau sáu năm học tập ở đại chủng viện Penang, vì mẹ chết nên Petrus Ký trở về quê nhà ở Cái Mơn. Và trong thời gian vài tháng đầu khi mới trở về, Petrus Ký phụ giúp linh mục Henri Borelle (tức Hoà) dạy học tại tiểu chủng viện Cái Nhum, nơi gần với quê nhà ông ở Cái Mơn. Cả hai nơi này đều có nhiều giáo dân Thiên Chúa Giáo người Việt. Họ được linh mục Borelle,người phụ tá cho giám mục Dominique Lefèbvre, coi sóc. Và giám mục Lefèbvre (tên Việt là Ngãi) chính là người cai quản giáo dân của toàn thể địa phận Tây Đàng Trong, bao gồm cả xứ Cao Miên và lục tỉnh Nam Kỳ.

Chiến dịch bắt đạo tại miền Tây Nam Kỳ của nhà Nguyễn sau khi quân Pháp đánh Đà Nẵng được khởi đầu với cuộc lùng bắt linh mục Henri Borelle và các phụ tá của ông tại Cái Nhum vào ngày 9 tháng 12 năm 1858. Petrus Ký, một phụ tá của linh mục Borelle, đã may mắn thoát được cuộc lùng bắt này và chạy lên Sài Gòn tị nạn.

Đó là bối cảnh lịch sử cho lá thư Penang.

Và đó cũng là bối cảnh lịch sử cho một lá thư khác được ký tên Petrus Key, mà chúng tôi cho rằng là một bức thư mạo danh Petrus Ký như một người theo đạo Thiên Chúa có gốc gác ở miền Lục Tỉnh đã viết thư cầu cứu quân Pháp sang Việt Nam để giải cứu giáo dân Việt Nam đang bị nhà Nguyễn truy bắt.

Để biết thêm về lá thư ký tên Petrus Key nói trên, xin xem: «Petrus Key  và Petrus Ký – Chuyện Một Lá Thư Mạo Danh Trương Vĩnh Ký vào Thế Kỷ 19» / Winston Phan Đào Nguyên, tại URL này :

https://petruskyaus.net/petrus-key-va-petrus-ky-chuyen-mot-la-thu-mao-danh-winston-phan-dao-nguyen/

II. LAI LỊCH CỦA LÁ THƯ PENANG

Chúng tôi có được bản phóng ảnh (photocopy) và bản dịch tiếng Pháp một lá thư bằng chữ La-tinh viết tay của Petrus Ký (Lá thư Penang) gửi cho các bạn đồng học ở Penang, là do bà Christine Nguyễn trao lại. Bà Christine Nguyễn, một hậu duệ (cháu cố) của Petrus Trương Vĩnh Ký, trong khi nghiên cứu làm luận văn Cao học ngành Thư Viện Học (Master of Library Science) tại Graduate School of Library and Information Studies, New York năm 1992, đã được Linh Mục Moussay của Thư viện Hội Thừa Sai Paris (Missions Étrangères de Paris, 128 Rue du Bac, 75007 Paris, France), tặng cho bản phóng ảnh lá thư Penang của Petrus Ký đang được lưu trữ trong Thư viện của Hội. Một bạn học người Pháp của bà Christine Nguyễn là Anne Madelin đã nhờ linh mục Antoine Lauras thuộc Dòng Tên (Société des Jésuites = S.J.), giáo sư dạy văn chương Hy-lạp và La-tinh tại các Đại Học ở Paris, dịch ra một bản tiếng Pháp.

Nhưng vì là một bản viết tay hơn 150 tuổi, lại thêm kỹ thuật sao chụp hơn hai chục năm trước (1990) chưa đủ tiến bộ, rất khó khăn để có thể đọc được thông suốt lá thư này. Thêm nữa, vì có lẽ giáo sư Antoine Lauras không biết tiếng Việt, cũng như địa dư, văn hóa và lịch sử Việt Nam, nên bản dịch bằng tiếng Pháp của ông có nhiều chỗ rất khó hiểu, hoặc không được chính xác.

Do đó, trong nỗ lực nghiên cứu lá thư Penang một cách khoa học, chúng tôi cần trước hết là đọc được toàn văn lá thư bằng tiếng La-tinh từ bản chép tay. May mắn nhờ hai tu sĩ là linh mục Dòng Tên người Việt đang nghiên cứu làm luận văn tiến sĩ về lịch sử Hội Thánh Công Giáo tại Việt Nam – một người ở Paris, một người ở Rome – chúng tôi đã có được một bản sao chụp với kỹ thuật số mới (digital copy) rõ ràng hơn. Từ đó, chúng tôi đã có thể đọc ra và chép lại được toàn văn lá thư bằng tiếng La-tinh.

Tiếp theo, chúng tôi đã cùng làm việc để hiểu, chép lại, và dịch chính xác tối đa lá thư Penang từ tiếng La-tinh ra tiếng Việt, với tôn chỉ là phải giữ lại giá trị lịch sử của văn bản này càng nhiều càng tốt.  Vì lý do đó, chúng tôi đã cố gắng dịch nhưng vẫn giữ lại thứ tự trong câu y nguyên như văn bản La-tinh – cho dù việc này làm cho bản dịch có vẻ không mấy văn chương – nhưng lại tiện lợi cho việc so sánh giữa nguyên bản và bản dịch. Kế đến, chúng tôi đã cố gắng chuyển sang tiếng Việt cho gần giống với văn phong của ông Petrus Trương Vĩnh Ký, một người Nam Kỳ ở thế kỷ 19. Việc này rất khó khăn, vì chúng tôi không thể dùng những chữ đang được dùng một cách phổ thông ngày nay nhưng lại không có trong thế kỷ 19, do chúng chỉ xuất hiện sau đó vào thế kỷ 20. Sau cùng, để người đọc có thể hiểu rõ thêm nội dung lá thư, chúng tôi, trong khả năng của mình, đã cố gắng làm đầy đủ những chú thích về những sự kiện và nhân vật lịch sử được nói đến trong thư, cũng như những đoạn văn liên quan đến Thánh Kinh hay những châm ngôn điển tích Hy-La đã được tác giả nêu ra trong thư.

III. NHỮNG ĐIỂM CHÍNH CỦA LÁ THƯ PENANG

Lá thư Penang là một trong những tài liệu lịch sử nguyên bản vào thế kỷ 19 rất hiếm hoi của Việt Nam. Nhưng lá thư này đặc biệt đáng được lưu ý vì hai lý do sau đây:

– Lý do thứ nhất, tuy là thư của một người trong cuộc viết cho bạn bè ở trường đào tạo giáo sĩ Công Giáo tại Penang để kể cụ thể và chi tiết về một vụ bắt bớ các tín hữu theo đạo Thiên Chúa ở Cái Mơn (Vĩnh Long) và Đầu Nước (Châu Đốc), nhưng qua đó tác giả giúp chúng ta hiểu thêm nhiều về bối cảnh lịch sử, chính trị và xã hội của nước ta và riêng của xứ Nam Kỳ.

– Lý do thứ hai, tác giả bộc lộ rõ ràng thái độ của mình là người kế thừa xác tín của những người tin thờ Thiên Chúa. Qua lá thư Penang, Petrus Ký cho thấy là đã không bao giờ trông chờ vào ngoại bang hay bạo lực để giải thoát các tín hữu khỏi bị bắt bớ giết hại vì theo đạo. Trước những nghịch cảnh khi bị lùng bắt, ông chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Sau cùng, ông cho rằng việc quân Pháp đánh Việt Nam với danh nghĩa để giải cứu các giáo dân, thật ra chỉ làm cho tình hình của giáo hội Việt Nam ngày càng thêm bi đát hơn mà thôi.

Sau đây là bản dịch sang quốc ngữ Lá Thư Penang của Petrus Ký.

Phần ghi chú và phụ lục được cho vào cuối bản dịch để giải thích thêm về lịch sử Việt Nam, điển tích trong Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, để độc giả hiểu rõ thực trạng lúc bấy giờ đã được Petrus Trương Vĩnh Ký mô tả cặn kẽ trong Lá Thư này

***

Chúng tôi xin cám ơn bà Christine Nguyễn, Anne Madelin, hai tu sĩ nghiên cứu sinh ở Paris và Rome, bà Phạm Thị Lệ-Hương, bà Nguyễn Thế Học (tức nhà văn Phạm Thảo Nguyên), bà Nguyễn Thị Nga, Bác sĩ Tiêu Minh Thu, và ông Vũ Nguyễn, đã cung cấp tài liệu ban đầu, phối hợp mọi việc để giúp cho chúng tôi hoàn thànhdịch sang quốc ngữ Lá Thư Penang này.

California, tháng 1-2021

Winston Phan Đào Nguyên
LM Nguyễn Công Đoan, SJ
LM Trần Quốc Anh, SJ

PHẦN 2

BẢN DỊCH QUỐC NGỮ LÁ THƯ PENANG

***

A.  M.  D.  G.1

Gởi tất cả anh em của tôi tại

Trường Chung2 truyền giáo hải ngoại ở Pulo-Pinang

__________________________________________________

Xin dọn lòng3 và đón nhận cuộc Chạy Trốn Nhiều Chuyện4, các anh em của tôi

Từ Nam Kì lục tỉnh hoặc Từ Tây Đàng Trong5

A.  M.  D. G.  M6

___________________________________________________

1859

Người anh em của các anh em, Pet. Ký

Chữ Ký

[Phóng ảnh chữ ký của Trương Vĩnh Ký trích từ trang đầu của thư viết tay bằng La-tinh]

 

[Trang 1 này không liên quan tới lá thư, chỉ là một tờ dùng làm bìa, và được lấy từ một cuốn sổ dùng để ghi số người lãnh nhận các bí tích năm 1858, ở Hà Giang, tỉnh Long Tường]

 

A.M.D.G.   A.M.D.G.M

J.M.J7

____________________________________________________

Vì chưng thời giờ không cho phép tôi viết riêng cho từng anh em, mà tôi cũng không có huỡn để làm rầy tai người khác; tôi mong là không làm anh em phiền lòng khi tôi kể ra đây cho mọi người về những việc đã xảy ra, mà nếu viết cho từng người, thời tôi cũng phải kể. Thời gian và nơi chốn dễ dàng dong thứ cho tôi. Những gì tôi kể dưới đây về các người xưng đạo8, là sự thật, vì chưng những đều ấy đã được thuật lại, bởi các người đã nhận lịnh của bề trên có chức quờn9 để làm việc này, ngay tại nơi xét xử.10

Thưa anh em rất thân mến của tôi trong Đức Christo (Khi-ri-xi-tô)11.

Chúc tụng Đức Chúa Trời là Cha Đức Chúa Giê-su12 Khi-ri-xi-tô Chúa chúng ta, là Cha hay thương xót và là Đức Chúa Trời ban mọi sự an ủi, ngài an ủi chúng tôi trong mọi sự khốn khó13 của chúng tôi! Thưa anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về sự gian nan đã xảy tới cho chúng tôi tại xứ Annam14, chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức mình, đến nỗi chẳng còn thiết sống nữa15. Nhưng chúng tôi không cậy mình, mà chỉ cậy vào Đức Chúa Trời, là đấng khiến kẻ chết sống lại, là đấng có quờn phép để giải cứu chúng tôi khỏi những hiểm nguy lớn lao dường ấy, là đấng mà chúng tôi trông cậy sẽ cứu chúng tôi nữa và sẽ cho chúng tôi được khởi huờn trong Đức Khi-ri-xi-tô Giê-su16. Vậy tôi xin báo cho anh em hay những đều gì xảy ra cho chúng tôi mà quan quờn đã nói và đã làm. Và tôi cũng kể cho anh em đặng hay, thưa anh em, ơn Đức Chúa Trời đã ban cho các Hội Thánh ở Annam từng chịu nhiều sự khốn nạn. Hãy đồng lòng cất tiếng lên cùng Đức Chúa Trời, là đấng đã dùng Đức Chúa Thánh Thần qua miệng đầy tớ Ngài là David (Đa-vít)17 Tổ Phụ18 chúng ta mà phán dạy.

Vì quả thật trong xứ này người ta đã hiệp nhau chống lại người Con Rất Thánh của ngài là Đức Chúa Giê-su, đấng mà Đức Chúa Trời đã xức dầu phong vương trên núi thánh, khi công bố lịnh truyền của ngài19. Vậy giờ đây anh em, chúng tôi xin và van nài anh em trong Đức Chúa Giê-su, hãy cầu nguyện cho chúng tôi để Đức Chúa Trời nghe thấy những lời đe dọa của kẻ nghịch chúng tôi cùng ban cho các tôi tớ của Ngài được vững lòng rao giảng lời của Ngài và xưng danh Chúa ra càng hơn20. Chẳng bớt đi những ngày này, thời chẳng sanh linh nào đặng thoát!21 Từ ngày đoàn chiến thuyền Pha-lang-sa22 tới Touron23, thời đối với các bổn đạo24 cần trợ giúp, thuốc thang lại còn tệ hơn chứng bịnh! Họ bị phát tán và phân sáp25! Họ lánh vào nơi vắng vẻ và chẳng đặng nghỉ ngơi! Họ như chiên cừu26 chẳng kiếm ra đồng cỏ!

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2023

Hoa hồng phát âm âm Hán Việt là Mai Côi hay là Mân Côi?

 



 
NỮ VƯƠNG TRUYỀN PHÉP RẤT THÁNH MÔI KHÔI
 
Hồi nhỏ chúng tôi đọc Kinh cầu Đức Bà trong sách Kinh Mục lục Địa phận Qui Nhơn có câu: “Nữ vương truyền phép rất thánh Môi khôi” hoặc kinh “Hôm nay lớn mọn đều chầu. Cám ơn trong Đức Bà thương đoái, truyền phép Môi khôi cách nhiệm” hoặc Kinh Dưng loài người cho Trái tim vẹn sạch Đức Mẹ có câu: “Lạy Nữ vương truyền phép rất thánh Môi khôi, hay cứu giúp bổn đạo, hộ vực loài  người và hằng chiến thắng trên các trận giao công vì Chúa”. Không biết về sau này vì lý do gì mà trong tất cả sách kinh của Giáo phận Qui Nhơn được thay thế từ “Môi khôi” bằng từ “Mân côi”?

Trước đây bổn đạo của Địa phận Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào) đều thống nhất dùng từ “Môi khôi” như: Lần hạt chuỗi Môi khôi/ Tháng Môi khôi. Riêng Địa phận Đàng Ngoài dùng từ “Mân côi” hoặc “Văn côi”. Sau năm 1975, từ “Mân côi” dần dần thay thế từ “Môi khôi” trong kinh nguyện của các Giáo phận ở miền Nam Việt Nam và hiện nay tất cả Lịch Phụng vụ, kinh sách báo chí Công giáo Việt Nam đều dùng từ “Mân côi”.

Trong Kinh cầu Đức Bà có câu “Đức Bà như hoa hường (hồng) mầu nhiệm vậy”. Hoa hồng trong tiếng Hán được đọc theo âm Hán Việt là Môi khôi/ Mai khôi/ Mai côi/ Môi côi.

Mặt tiền Nhà thờ giáo xứ An Vân thuộc Tổng Giáo phận Huế có dòng chữ Hán xin được phiên âm: Thánh mẫu Môi khôi thánh đường. Bên dưới dòng chữ Hán là dòng chữ Latin: Ecclesia SS. Rosaii (Thánh đường Thánh mẫu Môi Khôi).

Nhà thờ An Vân còn cất giữ một cái hồng chung đúc năm Tự Đức thứ 28 (Ất Hợi – 1875). Trên thân hồng chung có bài minh văn bằng chữ Hán Nôm được khắc chìm: “Khi Hoàng đế giáng dụ tha đạo được sáu tháng thì chúng tôi đã lo đúc cái chuông này mà dâng cho Đức Chúa Bà Môi khôi, là bổn mạng nhà thờ An Vân mà tỏ lòng mừng cùng cám đội ơn Đức Chúa Trời và Đức Mẹ đã đoái thương- Tự Đức nhị thập cửu niên, tam nguyệt, nhị thập nhật tạo”. Năm 1972 hồng chung này bị rạn nứt nên không sử dụng nữa.

Năm 2007 nhân dịp kỷ niệm 100 năm (1907-2007) Thánh đường Thánh mẫu Môi khôi của Giáo xứ An Vân, Cha sở Giáo xứ An Vân là Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh rước thợ Phường Đúc lên tại khu vực Nhà thờ đúc một hồng chung lớn hơn. Trên thân hồng chung đúc nổi bài minh văn trong đó có đoạn: “…Thợ Phường Đúc đến mở lò rót đồng tại vườn trước nhà thờ, quả chuông nặng 2 tạ, bề ngang 6 tác 8 phân, bề cao 1 thước 3 tấc, thay cho quả chuông cổ đã bị rạn nứt năm 1972. Bản văn chữ Nôm được khắc chìm trên chuông cổ nay được khắc nổi lại đầy đủ với phiên âm là muốn ghi lòng tạc dạ công ơn tiền nhân mà cám đội ơn Đức Chúa Trời và Đức Bà Môi khôi”.

Từ năm 1875 và cho đến năm 2007 giáo dân giáo xứ An Vân vẫn dùng từ “Môi khôi”. Trong chữ Hán, tự dạng chữ “Môi” và “Mân” gần giống nhau nên rất dễ nhầm lẫn. Cả 2 chữ cùng thuộc bộ “Ngọc” và cả 2 chữ cùng đều 4 nét. Chữ “Môi” bên trái là bộ Ngọc, bên phải là chữ Phộc; Chữ Mân bên trái là bộ Ngọc, bên phải là chữ “Văn”. Chữ Mân có nghĩa là một thứ đá đẹp, không liên quan gì đến hoa hồng cả!

Trong những năm gần đây có nhiều bài viết phân tích ý nghĩa của từ “mân côi” và “môi khôi”. Các học giả đều khẳng định việc dùng từ “mân côi” để nói về “tràng chuỗi hoa hồng” là không đúng. Để gọi đúng phải là “tràng chuỗi Môi khôi” hoặc “Mai khôi/ Môi côi/ Mai côi”.

Được các học giả chỉ ra điểm sai thì cố gắng sửa sai ngay, nếu không sẽ bị xem là cố chấp. Chương trình Đường lên đỉnh Olympia được phát sóng lần đầu tiên vào ngày 21/3/1999 trên kênh VTV3. Ngay sau khi phát sóng, nhiều học giả phê bình là ngay cái tên Đường lên đỉnh Olympia đã là sai bét. Bởi vì chỉ có cánh đồng Olympia là nơi tổ chức Thế vận hội cổ xưa làm gì có đỉnh mà leo lên? Olympus mới là ngọn núi ở Hy Lạp. Vậy mà những người làm chương trình vẫn bỏ ngoài tai những góp ý đúng đắn ấy.

Ngay đầu bài viết “Từ vựng Công giáo: Môi côi? Môi khôi? Văn Côi? Mân côi? Mai khôi? Mai côi?” Linh mục Stêphanô Huỳnh Trụ viết: “Một số từ ngữ tôn giáo đôi khi chưa được sử dụng đúng hoặc bị dùng sai âm. Vì vậy những gì tôi viết hoàn toàn dựa vào ngữ pháp. Chỉ mong muốn từ ngữ tôn giáo được sử dụng chính xác hơn”.


Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Nghệ

Nguồn: gpquinhon.org

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2023

Mémorial Indochinois (1919-1921 & 1926): Một nỗ lực vươn xa


MÉMORIAL INDOCHINOIS (1919-1921 & 1926)
MỘT NỖ LỰC VƯƠN XA

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính


“Đừng hạ thấp mục đích nhưng hãy tăng thêm nỗ lực”. Không bằng lòng với những gì đã có, Đức cha Grangeon Mẫn đã muốn đưa hoạt động báo chí của địa phận Qui Nhơn lên một tầm cao hơn và phổ biến rộng rãi hơn. Và thế là “Tờ nguyệt san Mémorial Indochinois được Đức cha phó Jeanningros Vị[1] sáng lập và khích lệ giữa những khó khăn chồng chất của chiến tranh nổ ra khắp nơi”.[2] Và chính đứa con tinh thần này của ngài, tờ Mémorial Indochinois, đã đưa tin về cái chết thanh thản của Đức cha Jeanningros cũng như những lời nói cuối cùng của ngài: “Khi tâm hồn được bình an thì có một niềm vui thỏa khi thấy mình chết … Lạy Chúa! Xin thương xót con!”[3]

Số đầu tiên của nguyệt san “Mémorial Indochinois” đã in xong ngày 24 tháng 11 năm 1919. Kể từ khi ra đời, cha Eugène Durand Lộc là tác giả thường xuyên viết bài đăng trong tập san "Mémorial Indochinois" của Địa phận Qui Nhơn. Cha Durand đã học tiếng Việt tại Qui Nhơn và từng phục vụ tại Xóm Nam, Đại An, tỉnh Bình Định. Ta có thể kể ra những bài viết sau đây của cha Durand: “Au Tonkin vers 1700” (Mémorial Indochinois, Quinhon, 1920, Vol. 3, tr.. 152-158); “La Langue française en Indochine: un vieux projet”, (Mémorial Indochinois, 1920, tr. 82-88); “Un Anglais chez Mgr. de Bourges en 1688”, (Mémorial Indochinois, Quinhon, 1920, Vol. 5, tr. 268-272). Năm 1902, cha Durand là Thông tín viên, cộng tác viên của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO), đã viết nhiều bài nghiên cứu về văn hóa Chàm. Ngài cũng là tác giả một loạt bài nổi tiếng cho tờ “l'Avenir du Tonkin" (1909-1910) dưới bút hiệu “Jean d'Annam”. Ngài cũng đã từng phụ trách tờ Lời Thăm của Địa phận Qui Nhơn khi cha Maheu bận công việc xây dựng nhà thương phong Qui Hòa.  

Ngoài cha Durand Lộc ra, tờ “Mémorial Indochinois” còn nhận được các bài viết của cha Victor Barbier ở Nam Đàng Ngoài như: “Le collège de Hon-dât” (Mémorial Indochinois, Quinhon, 1920, Vol. 2, tr. 74-82), “Les premiers missionnaires européens en Annam” (Mémorial Indochinois, Quinhon, 1920, Vol. 6-7, tr. 328-332, 400-404) và “L'évêque d'Adran et le traité de Versailles (28 novembre 1787)” (Mémorial Indochinois, Quinhon, 1920, Vol. 12, tr. 740-745). Nhà văn và nhà báo Max Massot (1889-1942) cũng đóng góp bài “Mgr de Guébriant (…) parle …”, trong các số Mémorial Indochinois [de Quinhon], số tháng 11 năm 1919, tr. 7; số tháng 1 năm 1920, tr. 117; số tháng 2 năm 1920, tr. 192-193, 205-206, số tháng 3 năm 1920, tr. 236-237, 245.

Tuy nhiên, cũng lại vì một mục đích cao hơn, sau một thời gian phát hành không liên tục, tờ Mémorial Indochinois đã thông báo … ngừng phát hành để nhường chỗ cho một tiếng nói chung của Công giáo. “Tờ nguyệt san Mémorial Indochinois đã thông báo ngừng xuất bản cho quý độc giả của mình để khỏi làm tổn hại đến một tờ báo lớn của Giáo Hội sắp được xuất bản. Dù tờ báo được thông báo kia có ra sao thì việc đình bản tờ Mémorial đã gây nhiều tiếc nuối cho quý độc giả dài hạn của mình vì nó đem lại nhiều tin tức thú vị cũng như những thông tin hữu ích về các sự việc ở Đông Dương”.[4] Sự cần thiết phải có một tiếng nói chung, mạnh mẽ  và đồng nhất để phản bác lại những thông tin sai lạc đang lưu hành dù cố ý hay không cố ý đã khiến cho tờ Mémorial Indochinois phải nhường vị trí lại cho một tiếng nói chung của giới Công giáo: Công giáo đồng thinh (La Voix Catholique). “Tờ nhật báo Công giáo ở Sàigòn mà Đức cha đã nhắc đến nhiều lần, đã phải xuất bản trễ hơn vào tháng Chín tới đây. Tờ báo này muốn có 3.000 đăng ký mua báo trước khi bắt đầu xuất bản để có thể chắc chắn về sự nghiệp của mình. Tờ báo này lấy tên Công giáo đồng thinh và xuất bản mỗi ngày ở Sàigòn và được phát hành đến chúng ta qua chuyến xe lửa sáng. Tiền đặt mua hằng năm là 10$. Ngày nay, Phật giáo đã thống nhất các nhà chùa và có một tờ báo ở Sàigòn và một tờ ở Bắc kỳ. Đạo Cao Đài cũng có tờ báo của riêng mình. Người Công giáo cũng cần phải có một tờ báo để thông tin nhanh chóng, đồng thời cũng để phản bác lại những thông tin sai lạc đang lưu truyền”.[5] Nội dung tờ báo được viết bằng Quốc ngữ và được viết bằng “ngôn ngữ đơn giản, bình dân, muốn đến với số đông người và ngay cả những người hèn kém nhất cũng hiểu được, biết được những nhu cầu, tâm tư của mình, bảo vệ những xác quyết và quyền lợi của họ…. Công giáo đồng thinh muốn giữ sự độc lập tuyệt đối, nên không xin trợ cấp từ phía nào – và sống bằng chính những phương tiện của mình…. Năm đầu tiên, tiền đặt mua sẽ là 10$; những năm sau giá sẽ giảm tùy theo số lượng đăng ký mua”.[6]

Và vì phải đình bản tờ Mémorial Indochinois nên việc nâng cấp tờ Mémorial, Mission de Quinhon hẳn là chuyện đương nhiên. “Dường như rất hợp thời để phục hồi người anh khiêm tốn nhưng không kém phần xứng đáng là tờ Mémorial, Mission de Quinhon nhỏ bé mà từ lâu đã là người đưa tin thân thiết của gia đình chúng ta. Không phải là thừa vì đã có người em còn lớn mạnh hơn mình là tờ “Lời Thăm”, tờ Mémorial bổ túc về những vấn đề liên quan đến mục vụ. Nó cũng chỉ được gởi đến cho các linh mục trong địa phận và trong trường hợp cần thiết thì các cha nói lại cho các thầy về những gì liên quan đến họ. Như trước kia, nó cũng có một phần chính (partie officielle) gồm những văn thư của giám mục, của Tòa thánh, các ý kiến và thông tin … etc…; và một phần phụ (partie non officielle) gồm những tin tức đáng chú ý …. Số trang cũng sẽ thay đổi từ 8 đến 16 trang (đôi khi 4 hay 6 trang)”.[7]

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2023

Mémorial, Mission de Quinhon (1904-1953): Ấn phẩm báo chí đầu tiên của Nhà in Làng Sông



MÉMORIAL, MISSION DE QUINHON (1904-1953)
ẤN PHẨM BÁO CHÍ ĐẦU TIÊN CỦA NHÀ IN LÀNG SÔNG


Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

 

Ấn phẩm có thể xếp vào thể loại “báo chí” đầu tiên của địa phận Qui Nhơn là tờ Mémorial, Mission de Qui Nhơn, được phát hành từ năm 1904,[1] tức là ngay khi nhà in Làng Sông được cha Maheu tái lập năm 1904.[2] Như vậy, tờ thông tin này xuất hiện sớm hơn tờ Bulletin của Hội Thừa sai hải ngoại Paris (MEP).

Tờ Bulletin của các cha thừa sai MEP chỉ được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1922, để phổ biến những bài viết có chất lượng của các cha thừa sai là những chuyên gia thuộc mọi lãnh vực. Trong Hội thừa sai có những chuyên gia về lịch sử, địa lý, nhân chủng học, thực vật học, etc… Tờ Bulletin là phương tiện cho phép những ánh sáng này phát sáng và phổ biến ra bên ngoài. Đây không phải là một tạp chí khoa học nhưng sẵn sàng đón nhận những bài báo chất lượng cao làm vinh danh cho tác giả, cho Hội cũng như tạo uy tín cho tờ Bulletin.

Tờ Mémorial, Mission de Quinhon ra đời trong bối cảnh chung của các miền truyền giáo tại Á châu đều có những tờ thông tin liên lạc riêng của địa phận. “Hiện giờ phần lớn các địa phận đều có tờ báo nhỏ của riêng mình đưa những tin tức quan trọng, chẳng hạn như Bulletin de Seoul (bán nguyệt san), Bulletin de la Mission de Taikou (bán nguyện san), Çà 
et Là (Tây Tứ Xuyên, tuần báo); Vérité, phụ bản tiếng Pháp của tờ Tsong-che-pao, Tạp chí Công giáo của Tây Tứ Xuyên (tuần báo); Semaine du Kientchang; Petit Nouvelliste du Yunnan (nguyệt san); Echo du Shek-sat (Quảng Đông; tuần báo); tất cả những ấn hành này đều chỉ được dành cho các thừa sai. Tờ Mémorial de Quinhon … cũng được gởi cho các linh mục bản xứ. Xiêm có tờ Trait-d’Union. Tờ The Voice của Rangoon và Le Semeur của Pondichéry  là những tờ báo tháng dành cho tín hữu người Âu của Miến Điện và Ấn Độ.”[3]

Là tập san không định kỳ và chỉ dành cho hàng giáo sĩ, không phổ biến cho giáo dân, Mémorial, Mission de Quinhon chỉ như là một cơ quan thông tin riêng tư dành cho các thừa sai và các linh mục bản xứ trong địa phận, do đó không có lợi nhuận và sẽ chỉ được gởi cho họ. “Tập nhỏ này gọi là Mémorial, chẳng phải là tập nhựt trình cứ tháng cứ kỳ (revue périodique): cho nên kẻ lo việc chẳng buộc mình phải cứ ngày nào cho chắc mà phát ra. Song là như thơ chung bề trên gởi cho các linh mục địa phận. Bởi đó không cần phải giữ lề lối như nhựt trình, là thứ ai coi cũng được. Vậy xin các cha, ai lãnh tập nầy, thì hãy giữ, đừng đưa vấy vá ra làm chi.”[4] Vì tính cách riêng biệt này nên thông tin cũng hết sức đặc thù, chẳng hạn lời rao về một món đồ bị bỏ quên cần tìm lại chủ nhân: “Một linh mục bản xứ vừa ghé qua Thác Đá, đã bỏ quên một bình dầu thánh ở đấy, xin hỏi sở quản lý, nơi nó được gởi ở đấy”,[5] hay về sự đãng trí của các cha thừa sai quên … đóng tiền báo: “Các cha thừa sai đăng ký trọn đời tập Mémorial, vì đãng trí (par distraction) mà quên trả 1 đồng phí đặt báo hằng năm, sẽ bị trừ cũng một số tiền trên biên lai tài khoản của sở quản lý”.[6]

Dù là tờ thông tin của địa phận Qui Nhơn nhưng nội dung tờ Mémorial hầu hết được viết bằng tiếng Pháp, thỉnh thoảng mới có đôi thông tin bằng tiếng Việt. Một độc giả nêu vấn đề trên và được tờ Mémorial, Mission de Quinhon, số tháng Hai 1924, tr. 28, trả lời như sau: “Tại sao không viết (tờ Mémorial) bằng tiếng Việt? Quý cha đã có những bài viết rất hay trong tập Mémorial nhưng tại sao không viết bằng tiếng Việt? Như thế sẽ có được nhiều người đọc hơn. Trả lời: Cha thân mến, cha có lý, thế nhưng cha có muốn xem xét các lý do này không? Lý do đầu tiên là: cha Quản lý tập san – ngài luôn nhắc lại điều này – là “ngài không biết tiếng Việt”. Nhưng chúng tôi cũng muốn liệt kê cho cha những lý do khác:

1. Nhiều linh mục Việt biết đủ tiếng Pháp để đọc tập san.
2. Các linh mục Việt của chúng ta biết tiếng Pháp, họ thích đọc bằng tiếng Pháp để duy trì những kiến thức đã học được.
3. Những ai không biết tiếng Pháp họ cũng thấy rằng chúng tôi cũng đã nỗ lực viết tiếng Việt cho họ chứ không muốn viết bằng tiếng Pháp … mà chắc rằng họ sẽ được những người khác giải thích cho họ.
4. Khi viết bằng tiếng Pháp, tất cả các thừa sai chúng tôi đều đọc được cũng như một số đông các linh mục bản xứ, nếu viết bằng tiếng Việt, liệu có được như vậy không?
5. Chúng tôi không bao giờ nói rằng sẽ không viết bài bằng tiếng Việt, nhưng như cha biết đó, nó thật là khó: nhưng khó không phải là không thể nên chúng tôi hy vọng rằng năm 1924 sẽ có sự đổi mới.”

Và thông tin tiếng Việt rất cần thiết và hữu ích ngay sau trong số Mémorial tiếp theo là thông báo về hiện tình lưu hành bạc giả và cách phân biệt tờ 20$: “Thứ bạc 20$ có thứ giả mạo; ai nấy phải cẩn thận coi kỹ kẻo đã mất của mà ghe lần lại phải tốn công khai báo. Vậy những dấu chỉ bạc giấy 20 giả, kể ra đây cho ai nấy biết và cũng phải nói lại cho kẻ khác biết với …”[7]

Tuy chỉ là một tờ thông tin nội bộ của địa phận nhưng “hệ thống phát hành” lại rất tiên tiến và vươn xa đến tận … nước Pháp. “Tờ Mémorial vẫn luôn được gởi cho những cha vắng mặt, những ai trong số này không thường xuyên nhận được thì xin báo cho Đức cha phó hay cha quản lý nhà in”.[8] Trong chiến tranh I, các cha thừa sai đi quân dịch ở Pháp hay đang ở Tây nguyên cũng vẫn đều đặn nhận được tờ Mémorial của địa phận. Tất cả những người thợ trong cánh đồng truyền giáo Đông Đàng Trong đều được nối kết với nhau qua tờ Mémorial. “Các thừa sai ở Việt Nam muốn có thông tin thường xuyên về các cha được huy động miền trên và ngược lại các thừa sai ở xứ người Bahnar muốn có thông tin ở dưới này. Vì thế, như một cơ quan nối kết, tờ Mémorial là dấu nối hàn gắn giữa hai cực, Việt Nam và Pháp.[9] Cha Gustave Dubulle Phương (1865-1937), sau một thời gian làm việc tại Nam Bình, địa phận Qui Nhơn, ngài trở về Pháp để vào Dòng Trappist theo ơn gọi của mình, tuy nhiên ngài vẫn giữ mối liên hệ với địa phận Qui Nhơn nhờ tờ Mémorial, Mission de Quinhon và Lời Thăm. Từ tu viện Sept-Fons ngày 25 tháng 11 (1923), ngài viết: “Sự vắng mặt lâu dài của tôi, thay vì cắt đi những mối liên hệ gắn bó giữa tôi với địa phận, chỉ làm cho nó siết chặt hơn mà thôi. Mỗi buổi sáng, tôi đánh thức tình cảm này khi cầu xin cùng Thánh Tâm Chúa cho mọi người, cho các anh em đồng sự, các linh mục bản xứ, cho mọi công việc, và đặc biệt là cho địa sở Xóm Nam được nhiều ơn cải đạo. Đối với tôi, tờ Mémorial và Lời Thăm là gạch nối giữa tôi và các anh em, điều này sẽ còn tiếp tục mãi cho đến khi Chúa dẫn đưa tôi về một thế giới tốt đẹp hơn”[10]  

Vì là tờ thông tin liên lạc nội bộ nên Mémorial vẫn được liên tục phát hành và không định kỳ, đôi khi đình bản vì lý do bất khả kháng. “Tháng Bảy 1917, trong thời gian cha quản lý nhà in và Đức cha vắng mặt, cha Dorgeville thay thế đảm trách công việc nhà in vừa dạy ở Làng Sông. Vì thế không có tờ Mémorial từ số 130 tháng 3 cho đến số 131 tháng 7”.[11]

Đến năm 1920, tờ Mémorial, Mission de Quinhon có sự thay đổi lớn. Đức cha Grangeon muốn đi xa hơn nữa, vượt qua khỏi tầm vóc của địa phận, nên ngài đã sáng lập nên tờ “Mémorial Indochinois”. Những nội dung chính của tờ Mémorial, Mission de Quinhon sẽ được chuyển qua tờ Mémorial Indochinois, chỉ giữ lại phần tin thời sự của địa phận, các tin bổ nhiệm hay thông báo của Tòa giám mục. “Như chúng tôi đã loan tin trước đây, tờ Mémorial số 157 (tháng 12 năm 1919) là số báo cuối cùng của bộ cũ (ancienne série) bắt đầu từ tháng 10 năm 1904. Đối với những loạt bài báo nhận được nhiều sự quan tâm trong các mục: vie spirituelle, nouvelles de l’extérieur, documents du Saint Siège, documents officiels sur l’Indochine (đời sống thiêng liêng, tin ngoại bộ, tài liệu Tòa thánh, tài liệu chính thức về Đông Dương), thì tờ Mémorial Indochinois, mà các thừa sai và một phần ba các linh mục bản xứ đã đặt mua, sẽ thay thế cho đàn anh của mình cách ích lợi hơn. Vì thế, từ nay chúng tôi sẽ chỉ in một vài trang những ý kiến và tin tức đặc biệt liên quan đến địa phận Qui Nhơn. Tập báo nhỏ này được xuất bản hầu như mỗi tháng, không hẳn là báo định kỳ.

Dưới tiêu đề chung là “Actes et avis officiels” (những văn kiện và ý kiến chính thức), các linh mục trong địa phận sẽ tìm thấy trong đó là các bổ nhiệm, các ý kiến, những thông tin của Tòa giám mục. Kế đến là một chỉ dẫn ngắn thông báo, nếu có, những Văn kiện của Tòa thánh[12] và những quyết định thực tế của các Thánh bộ ở Rôma mà bản văn và các tài liệu thường sẽ in trong tờ Mémorial Indochinois. Đây sẽ là phần chính thức của tờ phụ trương này (supplément). Phần thứ hai, không chính thức, sẽ có những tin về những người vắng mặt hay đau yếu, kế đến là phần tin thời sự trong địa phận. Chúng tôi cám ơn trước quý độc giả, đặc biệt là những người ở các tỉnh xa, sẵn lòng gởi đến trung tâm chúng tôi vài tin tức về các địa sở. Một hai hàng thêm vào ở phần tái bút trong các thư gởi về tòa giám mục, sở quản lý hay nhà in, cũng đủ để thông báo một vài sự kiện thú vị cho mọi người. (Không cần phải nhắc lại là tờ phụ trương này chỉ dành riêng cho các linh mục trong địa phận chúng ta)”.[13]    

Và số đầu tiên, “Numéro 1”, trong bộ mới (nouvelle série) phát hành ngày 12 tháng 2 năm 1920, (Mémorial, Mission de Quinhon, Nouvelle série – No 1 – 12 Février 1920) chỉ vỏn vẹn có 5 trang; số tiếp theo phát hành ngày 15 tháng 3 (Mémorial, Mission de Quinhon, Nouvelle série – No 2 – 15 Mars 1920) cũng chỉ được 7 trang, trong khi số cuối cùng của bộ cũ phát hành ngày 30 tháng 12 năm 1919 (Mémorial, Mission de Quinhon, – No 157  –30 Décembre 1919) có đến hơn 30 trang với đầy đủ các mục: Avis et communion – Actes du St. Siège – Liturgie – Poésie – Documents de l’Officel – La Foire de Hanoi – Comptes religieux – Chronique – Nécrologe.

Tầm quan trọng của báo chí trong công cuộc truyền giáo không hề được xem nhẹ trong bối cảnh ngành in ấn mới ở mức “kém phát triển” như xếp loại của Việt Nam thời bấy giờ, Đức cha Grangeon chẳng những đã sáng lập nên một tờ báo mới mà còn khuyến khích cổ vũ hoạt động báo chí đã có trong địa phận. Ngài viết: “Báo “Trung Hòa” được Tòa thánh ban khen và chúc phước lành cho những đấng gầy dựng, những vị cổ động, những kẻ giúp lo cách nào cho tờ báo ấy được phát đạt. Lời ban khen và chúc phước ấy ban ra ngày 23 Février 1924. Ấy Tòa thánh biết rõ các tờ báo có đạo rất làm ích cho nhơn dân, nên khi nghe nơi nào xuất bản đăng báo có đạo, thì vui mừng ban khen và chúc phước. Vậy ta hãy tận lực giúp các tờ báo có đạo trong nước Nam ta, ít nữa là giúp cho “Lời Thăm” và tờ “Mémorial” là của riêng địa phận ta, hầu mở mang việc truyền giáo trong bổn xứ.… Vả chẳng phải là viết các việc lạ, song cần nhứt là viết về việc phong hóa đặng tấn ích cho giáo nhơn, cùng những lời dạy dỗ khuyên răn hầu mọi người được nhờ phần rỗi”.[14]

Chiến tranh thế giới lần I đã khiến cho nguồn giấy bị thiếu hụt nên khổ báo được thu nhỏ lại: “Nhiều người có lý do để tiếc nuối rằng tờ Mémorial không giữ được khổ báo trước đây, cho phép đóng tập đồng bộ hơn. Đây là điều bất khả thể vì cơn “khủng hoảng giấy”. Với một sự điều chỉnh nhỏ, lúc đóng bìa, ta có thể phần nào tránh được sự bất tiện này. Nhiều anh em đồng sự đề nghị mục “Avis et Communications” (ý kiến và thông tin) nên đặt ở đầu cuốn Mémorial. Số báo này đã làm thỏa mãn ước muốn này.”[15]

Tờ Mémorial, Mission de Quinhon đình bản với số tháng 11-12 năm 1953, dù rằng không thể phát hành liên tục trước và trong thời gian kháng chiến bắt đầu từ năm 1946. Các số báo trong những năm cuối cùng không còn hàng chữ “Imprimerie de Quinhon” như thường lệ ở cuối tập nữa. Có thể nói kể từ thời gian này trở đi, khi nhà in đã bị “trưng dụng”, thì danh xưng “Imprimerie de Quinhon” không còn chủ thể chính danh, do đó, không tồn tại nữa vì không thuộc quyền quản lý của bản quyền Địa phận.
 
[1] Henri Cordier, Bibliotheca indosinica, Dictionnaire bibliographique des ouvrages relatifs à la péninsule indochinoise, Vol. III. - 1914, tr. 1938.
[2] Trong “Dự thảo mục lục báo chí Công giáo Việt Nam”, Hành trình 100 năm báo chí Công giáo Việt Nam, tác giả Lê Đình Bảng đã xếp tờ Mémorial ở vị trí thứ 8 khi cho rằng năm phát hành số đầu tiên là 1927 (tr. 149). Vị trí thứ 1 thuộc về tờ Nam kỳ địa phận, phát hành năm 1908 (tr. 143), trong khi Mémorial de Quinhon phát hành năm 1904. Tờ Lời thăm các thầy giảng (tiền thân tờ Lời Thăm) được xếp thứ 5 (tr. 146) với năm phát hành là 1921, trong khi số đầu tiên phát hành ngày 20/9/1919.
[3] Xem “Entre Nous”, Supplément số 5 (Mai 1922), Bulletin MEP, Mai 1922.
[4] Mémorial, Mission de Quinhon, No 66, 5 Aout 1910.
[5] Mémorial, Mission de Quinhon, No 57, 30 Septembre 1909, tr. 144
[6] Mémorial, Mission de Quinhon, 20 Février 1916, tr. 8
[7] Mémorial, Mission de Quinhon, Mars 1924, tr. 33
[8] Mémorial, Mission de Quinhon, 30 Mars 1917, tr. 24
[9] Mémorial, Mission de Quinhon, 10 Décembre 1917, tr. 119
[10] Mémorial, Mission de Quinhon, Janvier 1924, tr. 12
[11] Mémorial, Mission de Quinhon, 30 Juillet 1917, tr. 43
[12] Chẳng hạn ở trang 3 trong số đầu tiên của bộ mới này (No 1 – 12 Février 1920) đã thông báo ngắn gọn rằng: “bức “tông thư” quan trọng về truyền giáo đã xuất hiện trong No  của tờ Mémorial Indochinois”.
[13] Mémorial, Mission de Quinhon, 12 Février 1920, tr. 1-2.
[14] Mémorial, Mission de Quinhon, Juin 1924, tr. 80
[15] Mémorial, Mission de Quinhon, số 157, 30 Décembre 1919.





Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn: gpquinhon.org/