Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014

Video: Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII


Video: Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII
VietCatholic Network4/20/2014


Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ phong thánh cho hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II vào ngày 27 Tháng 4 tới đây.


Việc chọn phong thánh cho hai vị cùng một ngày thật là đầy ý nghĩa. Cả hai vị đại Giáo Hoàng đều có những ảnh hưởng sâu đậm không những trên Giáo Hội mà còn cả trên vận mệnh của thế giới đương đại.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881. Ngài là người con thứ tư trong gia đình có mười bốn đứa con. Cha mẹ ngài là những tá điền sống trong một ngôi làng ở Lombardy, Italia. 

Ngài được thụ phong linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 và đảm trách nhiều chức vụ khác nhau như sứ thần Tòa Thánh tại Pháp, Bulgaria và Hy Lạp. 

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tấn phong Hồng Y cho ngài ngày 12 Tháng Giêng năm 1953 và đặt ngài làm Thượng Phụ Thành Venice cũng như Hồng Y đẳng linh mục hiệu tòa Santa Prisca.

Đức Roncalli được bầu làm giáo hoàng vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 ở tuổi 76 sau mười một vòng bỏ phiếu. Những nhà bình luận thời ấy thường xem ngài như một vị Giáo Hoàng tạm thời. Tuy nhiên, Đức Gioan XXIII đã làm kinh ngạc họ với những dấu ấn ngài để lại cho Giáo Hội và thế giới.

Ngài đã triệu tập Công Đồng Vatican II lịch sử với phiên khai mạc đầu tiên vào ngày 11 tháng 10 năm 1962 và kéo dài cho đến ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8 tháng 12 năm 1965.

Ngày 14 tháng 10 năm 1962, tức là ba ngày sau khi Đức Thánh Cha Gioan XXIII khai mạc Công Đồng, máy bay do thám Mỹ phát hiện ra Cuba và Liên Xô đã bắt đầu xây dựng các dàn phóng tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung và tầm xa có khả năng tấn công hầu hết tất cả các thành phố trên nước Mỹ. 

Tổng thống Kennedy đặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng chiến tranh, ráo riết triển khai các dàn phóng tên lửa hướng về Mạc Tư Khoa và Havana, phong toả Cuba, trong khi buộc Liên Sô và Cuba phải tháo gỡ các tên lửa. Bí thư đảng cộng sản Liên xô là Nikita Khrushchev không nhượng bộ còn đưa thêm tàu chiến áp sát Cuba và cho phép các tư lệnh chiến trường phóng các vũ khí hạt nhân chiến thuật, nếu Cuba bị Mỹ xâm lược. 

Thế giới tiến gần đến gần ngày tận thế hơn bao giờ hết. Hàng triệu người theo dõi các cuộc thách thức trên truyền hình. Hai phía dường như không còn có con đường nào để thoát ra khỏi một cuộc chiến được dự đoán là không thể tránh khỏi.

Trước tình trạng mây đen chiến tranh đang tụ dần, che kín chân trời thế giới, ngày 25 tháng 10 năm 1962, trên radio Vatican, Đức Thánh Cha Gioan XXIII, đọc một diễn văn quan trọng bằng tiếng Pháp gởi tất cả các nhà lãnh đạo trên thế giới.

Ngài nói:

“Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại. Họ cần phải làm tất cả những điều có thể trong thẩm quyền của mình để cứu vãn hòa bình. Như thế, họ sẽ tránh cho thế giới khỏi các nỗi kinh hoàng của một cuộc chiến tranh, mà hậu quả đáng sợ của nó không ai có thể dự đoán được. Họ cần tiếp tục các cuộc thương thảo, vì lối cư xử thành thật và cởi mở này có giá trị to lớn như một chứng tá cho lương tâm của mọi người, và trước lịch sử. Cổ vũ, ủng hộ, chấp nhận các cuộc đối thoại, ở mọi cấp và bất kỳ lúc nào, là một quy luật của sự khôn ngoan và thận trọng, đem lại những ơn lành của trời và đất”.

Ngày hôm sau, thông điệp của Đức Giáo Hoàng xuất hiện trên các tờ báo trên khắp thế giới, trong đó có tờ Pravda (Sự thật), tờ báo chính thức của đảng Cộng sản Liên Xô. Nhan đề trong bài báo là: "Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại”.

Với lời nài xin của mình, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã cho thủ tướng Khrushchev một lối thoát trong danh dự. Bằng cách rút lui ngay lúc ấy, ông có thể được xem như là một con người của hòa bình, chứ không phải là một kẻ hèn nhát. Hai ngày sau, ông Khrushchev, một người vô thần, lãnh tụ của một đất nước luôn hăng máu hủy diệt tôn giáo, luôn cố gắng nuôi dưỡng một cuộc chiến tranh tuyên truyền không mệt mỏi chống Vatican, đã đồng ý rút các tên lửa. Đổi lại, Kennedy cũng đã bí mật đồng ý rút các tên lửa của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ.

Có một việc công chúng thời đó ít người biết là vào ngày 23 tháng 9 năm 1962, chỉ một tháng trước khi khai mạc Công Đồng Vatican II và giúp thế giới thoát khỏi bờ vực chiến tranh, kết quả việc chụp X-quang cho Đức Thánh Cha Gioan XXIII biết là ngài bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Ngài biết là mình sắp từ giã cõi đời này. Trong lúc bi đát như thế, ngài vẫn tiếp tục cống hiến hết sức mình cho Giáo Hội và thế giới. 

Ngài được Chúa gọi về ngày 3 tháng 6 năm 1963. 

Những người thời đó đều lưu giữ một ký ức sống động về cảm xúc lan toả trong những ngày ấy. Quảng trường thánh Phêrô lúc đó trở thành một đền thánh ngoài trời, đón tiếp cả ngày lẫn đêm các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và thành phần xã hội, lo lắng và cầu nguyện cho sức khỏe của Đức Giáo Hoàng. Toàn thể thế giới đã nhìn nhận Giáo Hoàng Gioan là một vị mục tử và một người cha của nhân loại. Điều gì đã làm nên con người ngài như thế? Làm thế nào mà ngài có thể chạm đến trái tim của của những con người quá khác biệt nhau như thế, thậm chí ngay cả những người không phải là Kitô hữu nữa? 

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể liên tưởng đến khẩu hiệu Giám mục của ngài: oboedienta et pax: vâng phục và bình an. "Những từ này," –Giám mục Roncalli đã ghi lại trước ngày thụ phong trong cuốn “Nhật Ký Một Linh hồn, tĩnh tâm để chuẩn bị thụ phong giám mục, 13-17 tháng 3 năm 1925”. 

Bình an là khía cạnh rõ ràng nhất người ta dễ dàng nhận thấy nơi Đức Angelo Roncalli : bình an tự nhiên, thanh thản và thân ái. Đây rõ ràng là một nét đặc biệt về nhân cách của ngài, giúp ngài xây dựng tình huynh đệ bền chặt ở khắp mọi nơi, chẳng hạn trong thừa tác vụ là Đại Diện Tòa Thánh. Ngài đảm nhận cương vị này gần 3 thập niên, thường tiếp xúc với những môi trường và thế giới cách xa Thế Giới Công Giáo, nơi ngài được sinh ra và lớn lên. Chính trong những môi trường này mà ngài tỏ ra là người thợ dệt hữu hiệu các mối quan hệ và một người vô địch của tinh thần hiệp nhất, cả trong cộng đoàn Hội Thánh lẫn bên ngoài. Hơn thế nữa, ngài mở ra cuộc đối thoại với các Ki- hữu thuộc các Giáo Hội khác, với những người đại diện của Do thái giáo và thế giới Hồi giáo, và với nhiều người thiện chí khác. 

Đức Giáo Hoàng Gioan đã chuyển ban bình an đến với những ai tiếp xúc với ngài bởi vì tâm hồn ngài chìm ngập trong bình an: ngài đã để cho Chúa Thánh Thần tạo nên bình an trong tâm hồn. Và tâm hồn ấy tràn ngập bình an là hoa trái của một công trình lâu dài và thách thức trên chính bản thân ngài, mà những dấu vết phong phú đã để lại trong cuốn “Nhật Ký của một Tâm Hồn”. Trong đó chúng ta có thể thấy Roncalli - người chủng sinh, linh mục, giám mục – bám chặt vào tiến trình tiệm tiến là thanh tẩy tâm hồn. Chúng ta thấy ngài, ngày qua ngày, nỗ lực nhận ra và loại trừ những ước muốn bắt nguồn từ tính ích kỷ của bản thân và biện phân những soi sáng của Chúa, để mình được hướng dẫn bởi những vị linh hướng khôn ngoan và được truyền cảm hứng từ những bậc thầy như thánh Phanxicô đệ Salê và thánh Carolo Boromeo. Đọc những bài viết đó, chúng ta thực sự thấy được một linh hồn đang được hình thành dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đang hoạt động trong Hội Thánh Người, trong các tâm hồn; chính Chúa Thánh Thần, cùng với những xu hướng tốt đó, đã đem lại bình an cho tâm hồn Roncalli. 

Giờ đây chúng ta hãy đề cập đến với từ thứ hai và có tính quyết định, đó là từ: "Vâng phục". Cho dù bình an là nét bên ngoài, thì thiên hướng bên trong của Roncalli hệ tại là vâng phục. Quả thế, vâng phục là phương tiện để đạt được bình an. 

Trước tiên, nó có một ý nghĩa rất đơn sơ và thực dụng: chu toàn trong Hội Thánh một việc phục vụ mà các bề trên của ngài yêu cầu, bằng cách không hề tìm kiếm bất kỳ điều gì cho bản thân, không trốn tránh bất kỳ điều gì được đòi hỏi, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải rời bỏ quê hương để đối diện với những thế giới mà mình không biết và sống nhiều năm ở những nơi có rất ít người Công Giáo và ở xa nhau. Đó là tinh thần sẵn sàng để được dẫn dắt như một đứa trẻ, tinh thần này đã tôi luyện đời hoạt động của ngài như một linh mục, như các bạn đã biết rất rõ; thư ký của Giám Mục Radini Tedeschi và đồng thời giáo sư và cha linh hướng trong đại chủng viện của giáo phận; Đại Diện Tòa Thánh ở Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Pháp; Thượng Phụ Giáo Chủ Venice và cuối cùng, Giám Mục Rôma. Tuy nhiên, qua sự vâng phục này, Roncalli, trong tư cách linh mục rồi Giám mục, cũng đã sống một sự trung thành sâu xa, mà ta có thể gọi là, như ngài đã từng nói, sự phó thác vào Thiên Chúa Quan Phòng. Ngài luôn nhìn nhận trong đức tin rằng qua lối sống theo cách này, dường như được dẫn dắt bởi người khác chứ không theo sở thích hoặc dựa trên sự nhạy cảm thiêng liêng của chính mình, Thiên Chúa đang phác hoạ một kế hoạch của riêng Người. Ngài là con người quản trị, người lãnh đạo. Nhưng ngài là một nhà lãnh đạo được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, bởi sự vâng phục. 

Qua sự phó thác hàng ngày cho thánh ý Chúa, Giáo Hoàng Gioan tương lai đã sống ngày càng sâu xa hơn một cuộc thanh tẩy cho phép ngài hoàn toàn từ bỏ chính mình và bám chặt vào Đức Kitô. Chính theo cách này mà ngài làm cho sự thánh thiện toả sáng, sự thánh thiện mà Hội Thánh sau này đã chính thức nhìn nhận. Đức Giêsu nói với chúng ta: "Bất cứ ai mất mạng sống mình vì thầy thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9, 24) Đây là nguồn mạch đích thực của sự tốt lành của Đức Giáo Hoàng Gioan, của sự bình an mà ngài đã gieo vãi trên khắp thế giới. Chính nơi đây mà cội rễ của sự thánh thiện của ngài được tìm thấy: trong sự vâng phục theo tin mừng của ngài.

Đó là bài học cho mỗi một người chúng ta, nhưng cũng cho Hội Thánh trong thời đại chúng ta: Nếu chúng ta để mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, nếu chúng ta có thể chết đi cho tính ích kỷ để dọn chỗ cho tình yêu Chúa và Thánh ý Người, chúng ta sẽ tìm thấy sự bình an, chúng ta sẽ là những người xây dựng bình an và sẽ lan toả bình an chung quanh chúng ta. Nửa thế kỷ sau cái chết của ngài, sự hướng dẫn khôn ngoan và đầy tình phụ tử của Đức Giáo Hoàng Gioan, tình yêu của ngài đối với truyền thống của Hội Thánh và ý thức về nhu cầu đổi mới không ngừng, trực giác tiên tri khi triệu tập công đồng Vatican II và sự dâng hiến cuộc sống của ngài cho sự thành công của công đồng, có giá trị như là cột mốc trong lịch sử Hội Thánh của thế kỷ hai mươi; và như là ngọn đuốc sáng cho hành trình đi về phía trước.

THÔNG BÁO: Kênh truyền hình trực tiếp Lễ Tuyên Thánh 2 vị Giáo Hoàng bằng tiếng Việt


THÔNG BÁO: Kênh truyền hình trực tiếp Lễ Tuyên Thánh 2 vị Giáo Hoàng bằng tiếng Việt

Kính thưa quý bạn đọc,
Vào lúc 10 giờ sáng giờ Rôma tức 3 giờ chiều giờ Việt NamChúa Nhật 27.04.2014, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ long trọng cử hành Thánh Lễ tuyên thánh cho Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan XXIII và Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại quảng trường thánh Phêrô.

DongTen.jpg

Sẽ có 9 vệ tinh thuộc hệ thống Eutelsat, cộng thêm các vệ tinh đã dùng trong dịp thế vận hội Olimpic mùa đông ở Sochi truyền hình trực tiếp lễ tuyên thánh trên toàn thế giới. Đài Sky sẽ có 15 máy thu hình theo kỹ thuật 4K. Nhằm giúp các tín hữu Công giáo tại Việt Nam có thể dễ dàng theo dõi và hiệp thông trong sự kiện trọng đại này, kênh Youtube của Dòng Tên Việt Nam sẽ truyền hình, thông dịch và bình luận trực tiếp bằng tiếng Việt Thánh lễ tuyên thánh. 
Chúng tôi sẽ bắt đầu phát lúc 14:30 giờ VN để giới thiệu về hai vị và những điều liên quan tới việc tuyên thánh, cũng như một cảnh tổng quan về Roma và thành phần tham dự Thánh Lễ này. 

Kính mời quý bạn đọc đón theo dõi và hiệp thông với Đức Thánh Cha Phanxicô, với Giáo hội Hoàn vũ để tạ ơn Thiên Chúa.
QUÝ VỊ CÓ THỂ BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ XEM VIDEO TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP THÁNH LỄ TUYÊN THÁNH

(HIỆN TẠI ĐỒNG HỒ YOUTUBE ĐANG ĐẾM NGƯỢC THỜI GIAN VỀ GIỜ LỄ)



(Chỉnh Trần, S.J., dongten.net 21.04.2014)

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014

“DES HOMMES DEBOUT” (NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG)




“DES HOMMES DEBOUT” (NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG)



Kontumquêhươngtôi xin trân trọng giới thiệu bản dịch tác phẩm DES HOMMES DEBOUT (NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG" của Cố Giám Mục Phaolô Kim (Paul Léon Seitz), đăng tại trang gpkontum.wordpres.com, với lời giới thiệu của Ban Mục Vụ Truyền Thông GP Kontum.


  DES HOMMES DEBOUT


GP Kontum 20/04/2014 - Bốn mươi năm đời người được coi như đã trưởng thành. Chừng ấy năm của một tác phẩm là quãng thời gian chẳng phải đủ để được thẩm định giá trị của nó hay sao?
Tác phẩm “DES HOMMES DEBOUT” đã tròn 40 năm (1974-2014): “Vào cuối tháng 11 năm 1974, tập sách này được hoàn tất tại Kontum”, như phần kết luận quyển sách cho biết.
Mỗi người có quyền đưa ra câu hỏi vào thời điểm năm 1974 tựa như đầu đời của tác phẩm đã đặt: “Không ai biết được chân trời miền nam Việt Nam đen tối thế nào ?. Đương nhiên họ có quyền đánh giá cho mình thực trạng xã hội miền nam Việt nam sau chiến cuộc năm 1975 cho đến hôm nay như thế nào?.
Đầu đề Tác phẩm : “DES HOMMES DEBOUT ” của Giám mục Paul Seitz rất ngắn gọn, nhưng làm cho chúng tôi lúng túng khi lược dịch: có thể dịch: NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG THẲNG, cũng có lúc chúng tôi dịch: NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG VỮNG, hoặc NHỮNG CON NGƯỜI ĐANG ĐỨNG ….Cuối cùng chúng tôi xin mạo muội tạm phỏng dịch : ” NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG”.
Trong các mệnh đề trên, cốt lõi vẫn là “NHỮNG CON NGƯỜI”. Các thuộc từ kèm theo có thể biến đổi tùy từng thời gian, theo hoàn cảnh, hoặc do thời cuộc…, nói cách khác do ngoại cảnh có thể tạo ra NHỮNG CON NGƯỜI trở thành nghiêng ngửa, chao đảo, luồn cúi, ngẩn đầu cao, đứng thẳng v.v….
Trong ngày Đại lễ Chúa Phục sinh, tâm tình của người Kitô hữu ý thức cách sâu sắc: VÌ LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA, VÀ ĐỂ CỨU RỖI CHÚNG TA, NGƯỜI ĐÃ TỪ TRỜI XUỐNG THẾ…. Với niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh, NHỮNG CON NGƯỜI, bất cứ họ là ai, dân tộc nào, tình trạng xã hội, thuộc đảng phái nào, CON NGƯỜI MỚI LÀ QUAN TRỌNG, ĐỀU ĐƯỢC THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG, MỌI NGƯỜI LÀ ANH EM. Do đó, chiến tranh sát hại lẫn nhau, nhất là giữa anh em đồng bào mình thật là vô nghĩa, đi ngược lại tính nhân ái bao dung của người Á Châu.
Với tâm tình đó, chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm : “DES HOMMES DEBOUT ” (NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG) trọn 40 tuổi (1974 – 2014) của Đức Cha Paul Seitz, nguyên Giám mục giáo phận Kontum (1952 – 1975) như câu hỏi cho mỗi người chúng ta: LÀM SAO CHO CON NGƯỜI ĐƯỢC HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC NHƯ NHỮNG CON NGƯỜI NHÂN LINH, CÓ TỰ DO TÔN GIÁO TRONG CUỘC SỐNG HÔM NAY, MÀ KHÔNG CẦN ĐẾN CHIẾN TRANH, VŨ LỰC, ÁP CHẾ?
_________________

Mời xem online hoặc download bản PDF tại đây:
NHỮNG CON NGƯỜI ĐỨNG - Paul Seitz (Phaolô Kim)

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

TAM NHẬT VƯỢT QUA 2014 TẠI GIÁO XỨ TÂN HƯƠNG - KONTUM



TAM NHẬT VƯỢT QUA 2014 TẠI GIÁO XỨ TÂN HƯƠNG - KONTUM

CHÚA NHẬT PHỤC SINH - CA NHẬP LỄ


XUẤT HÀNH 15 - HÁT MỪNG ĐỨC CHÚA CHIẾN SĨ HÙNG ANH
(Đáp ca sau bài đọc thứ 3)



CHÚA NHẬT PS - ĐÁP CA (Tv 117)


THỨ BẢY TUẦN THÁNH : LÀM PHÉP LỬA-RƯỚC NẾN PHỤC SINH-
CÔNG BỐ TIN MỪNG PHỤC SINH


RƯỚC LỄ

NGHI THỨC THỜ LẠY THÁNH GIÁ


THỜ LẠY THÁNH GIÁ

THỨ SÁU TT - ĐÁP CA: TRONG CƠN HẤP HỐI (Tv 30)

THỨ SÁU TUẦN THÁNH - PHẦN 3: RƯỚC LỄ


THÁNH LỄ TIỆC LY THỨ NĂM TUẦN THÁNH (PHẦN 1)

ĐÁP CA: CHÉN CHÚC TUNG (Tv 115) - Tác giả: Phương Anh 

HIỆP LỄ 1: TIỆC LY - Tác giả: Phalô Lộc


KIỆU MÌNH THÁNH CHÚA

Nguồn : Youtube Mai Tự Cường

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

Thánh Lễ Làm Phép Dầu Tại Nhà Thờ Đăk Mot – Gp. Kontum, 16/4/2014




Thánh Lễ Làm Phép Dầu Tại Nhà Thờ Đăk Mot – 
Gp. Kontum, 16/4/2014


Xin giới thiệu tư liệu của Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận Kontum:
I- BẢN ĐỒ  GIÁO HẠT ĐĂK MOT;
II – ĐOẠN VIDEO CLIP  PHẦN ĐẦU THÁNH LỄ LÀM PHÉP DẦU TẠI NHÀ THỜ  ĐĂK MOT  (16.04.2014).
I- BẢN ĐỒ  GIÁO HẠT ĐĂK MOT
GIAO HAT DAK MOT

II – ĐOẠN VIDEO CLIP  PHẦN ĐẦU THÁNH LỄ LÀM PHÉP DẦU TẠI NHÀ THỜ  ĐĂK MOT  (16.04.2014)

.
Thánh Lễ Làm Phép Dầu Tại Nhà Thờ Đăk Mot – Gp. Kontum, 16/4/2014
Phụng vụ Thánh Lễ hôm nay gồm 7 phần:
I. Phụng Vụ Lời Chúa
II. Các Linh Mục Lặp Lại Lời Hứa
III. Rước Dầu và Dâng Lễ Vật.
IV. Phụng vụ Thánh Thể.
V. Làm Phép Dầu dành cho Bệnh Nhân (OI: Oleum Infirmorum)
VI. Làm Phép Dầu dành cho Dự Tòng (OC: Oleum Catechumenorum).
VII. Thánh hiến dầu thành Dầu Thánh (SC: Sanctum Chrisma)

(Nguồn: gpkontum.wordpress.com)




Từ điển Việt – Bồ – La giúp hiểu rõ ý nghĩa một số kinh đọc thường ngày (3)



Từ điển Việt – Bồ – La giúp hiểu rõ ý nghĩa một số kinh đọc thường ngày (3)



Kinh CG

Sr. Minh Thùy, O.P
QUÝ VỊ CÓ THỂ ĐỌC:
PHẦN 1
PHẦN 2

9. Kinh Ăn Năn Tội (1)

Lạy Chúa, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.
  • Trong kinh này chúng ta thấy từ “ăn năn”, từ “ăn năn” trong tiếng Việt hiện đại nghĩa là “cảm thấy đau xót, day dứt trong lòng về lỗi lầm của mình”; bên cạnh đó tiếng Việt thế kỉ XVII thời của Từ điển Việt – Bồ – La cũng có nghĩa cổ hay không kém. “Ăn năn” nghĩa đen theo Từ điển Việt – Bồ – La là “ăn thứ cỏ đắng”, nghĩa ẩn dụ “để chỉ sự thống hối”. Từ này có lịch sử như sau: ngày xưa muốn sửa dạy ai là dùng hình phạt, người có lỗi phải quỳ gối ăn thứ cỏ ‘năn’ đắng giống như súc vật. “Ăn năn tội” nghĩa là ‘vì tội mà phải ‘ăn cỏ năn để tỏ lòng thống hối’, theo dòng lịch sử nghĩa đen của việc bị phạt ăn cỏ, trở thành nghĩa chính của từ “ăn năn tội” là biểu lộ sự “thống hối tội lỗi của mình”, là bày tỏ thái độ và hành động thống hối.
  • Trong kinh này chúng ta cũng gặp cụm từ “cả lòng”, từ “cả” trong Từ điển Việt – Bồ – La cũng có những nét nghĩa tương tự như trong Từ điển tiếng Việt hiện đại: cao nhất, lớn nhất, đứng đầu nhất, mức độ mạnh mẽ nhất, số lượng thành phần ở mức độ tối đa; tuy nhiên nó cũng có vài nét nghĩa cổ. Những cụm từ chúng ta thấy trong Từ điển Việt – Bồ – La như: thầy cả, chị cả, cả gan, cả giận, cả tiếng những từ này giống như trong tiếng Việt hiện đại. Tuy nhiên Từ điển Việt – Bồ – La còn có những cụm từ khác chúng ta hiện nay như:
  • đầy tớ cả (nghĩa là tông đồ),
  • cả nước – hồng cả (nghĩa là lụt hồng thủy, lụt cùng khắp),
  • ăn chay cả (nghĩa là mùa chay bốn mươi ngày),
  • ơn cả (nghĩa là ơn huệ to lớn),
  • cả và thiên hạ (nghĩa là tất cả thế giới, cả mọi người dưới bầu trời).
Cụm từ cả lòng được Từ điển Việt – Bồ – La ghi nhận “tội cả lòng” nghĩa là “tội cả dám”, dám phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa. Chúng ta cũng gặp cụm từ “cả sáng” trong Kinh Lạy Cha là kiểu kết hợp tương tự, kiểu kết hợp này ngày nay không còn nữa. Một điều thú vị là chúng ta tìm thấy trong Phép giảng tám ngày của Cha Đắc Lộ, 8 lần Cha dùng cụm từ “cả sáng” với nghĩa “vinh danh, tỏ rạng”; làm cho danh Cha “cả sáng” nghĩa là cho danh Cha được “tỏ rạng”, được “vinh danh”.Lần thứ 8 trong Phép giảng tám ngày ở câu cuối cùng xuất hiện cụm từ “cả sáng hơn” và được chú thích là ‘khẩu hiệu Dòng Tên’ nghĩa là vinh danh Chúa hơn.
  • Trong kinh này còn cụm từ “dốc lòng chừa cải”: Từ điển Việt – Bồ – La ghi nhận “dốc lòng” nghĩa là “quyết tâm, quyết định”; “dốc lòng chừa” nghĩa là quyết tâm sửa mình; Từ điển Việt – Bồ – La ghi rất rõ: mục từ “chừa” nghĩa là “sửa mình một phần”, và mục từ tiếp theo chừa cải nghĩa là“sửa mình hoàn toàn”. Dốc lòng chừa cải” nghĩa là “quyết tâm sửa mình hoàn toàn”.Thiết nghĩ lời kinh thật sâu sắc với những từ nghĩa cổ rất thích hợp để chúng ta nghiền ngẫm trong những ngày cuối của mùa chay thánh này.

10. Kinh Trông Cậy

Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời con nguyện, trong cơn gian nan thiêú thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng. Hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen
  • Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “hằng chữa”: theo Từ điển Việt – Bồ – La“hàng” nghĩa là “luôn luôn”, “chữa” nghĩa là “giải cứu khỏi bất cứ tai họa nào như bệnh hoạn hoặc sự nguy hiểm...” “Hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ”, nghĩa là xin Mẹ luôn luôn giải cứu cho khỏi mọi sự dữ, khỏi bất cứ tai họa, bệnh nạn hoặc bất cứ nguy hiểm nào.

11. Kinh thờ Lạy

Lạy Chúa, con là vật phàm hèncùng là không trước mặt Chúa, con hết lòng thờ lạy và nhận thật Chúa là đầu cội rễ mọi sự, là cùng sau hết mọi loài; Chúa đã dựng nên con cùng thật là Chúa con nữa, thì con xin dâng linh hồn và xác cùng mọi sự trong ngoài con ở trong tay Chúa. Amen
  • Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “con là vật phàm hèn”, tác giả Từ điển Việt – Bồ – La ghi nhận câu nói: “tôi là kẻ hèn” với nghĩa “tôi không là gì hết” là một “lời khiêm tốn, thông dụng đối với người An-nam” (người Việt Nam) lúc bấy giờ. Các nhà truyền giáo đã ứng dụng câu nói thông dụng của người dân An-nam vào lời kinh đọc bằng cách thay thế đại từ “tôi” bằng đại từ “con” và từ “kẻ” bằng từ “vật”. Lời kinh “con là vật phàm hèn cùng là không trước mặt Chúa” nghĩa là con không là gì hết, con không có gì hết, con là hư không trước mặt Chúa là một lời khiêm tốn, là câu nói cửa miệng của người An-namKhi chúng ta bắt đầu lời “Kinh Thờ Lạy” hoặc khi chúng ta cầu nguyện với Chúa, chúng ta hãy khiêm tốn nhìn nhận thân phận của mình trước mặt Chúa: Lạy Chúa, con không là gì hết, con không có gì hết, con là hư không trước mặt Chúa, con hết lòng thờ lạy Chúa.
Trong kinh nàychúng ta còn gặp cụm từ Chúa là đầu cội rễ mọi sự, là cùng sau hết mọi loài” ý tưởng này tác giả Từ điển Việt – Bồ – La nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong từ điển bằng các kiểu nói như: Chúa blời (Trời) là cội rễ muân (muôn) sự nghĩa là Chúa Trời là nguyên lý mọi vật; là đấng “vô thỉ vô chung”. Tác giả Từ điển giải thích thêm: “thiên thần” và “linh hồn” thì “hỡu (hữu) thỉ vô chung” nghĩa là “có nguyên lý mà chẳng có cùng tận”. Thiên Chúa thì“vô thỉ vô chung” là vĩnh cửu. Khi đọc lời kinh này chúng ta xác tín rằng, Chúa là Đấng hằng hữu, Chúa là đầu cội rễ mọi sự, là cùng sau hết mọi loài”, từ muônđời đã có Ngài và mãi mãi ngàn đời vẫn có Ngài.

12. Kinh Phù Hộ

Chúng con thờ lạy ngợi khen Chúa là Đấng có phép tắc vô cùng, đã thương để chúng con đến sớm mai nay, thì xin Chúa xuống ơn phù hộ cho chúng con trót ngày hôm nay, khỏi sa phạm tội gì. Lại xin Chúa sửa sự lo, lời nói, việc làm chúng con hằng nên trọn lành theo ý Chúa; vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, là Đấng hằng sống hằng trị cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần đời đời chẳng cùng . Amen
  • Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “xuống ơn” đây là một nét nghĩa, một kiểu kết hợp ngữ pháp mà tiếng Việt hiện đại không có. Tiếng Việt hiện đại từ “xuống” có 4 nét nghĩa: 1.Di chuyển đến một chỗ, một vị trí thấp hơn hay được coi là thấp hơn; 2.Giảm số lượng, mức độ hay cấp bậc; 3.Truyền đến các cấp dưới (kết hợp hạn chế); 4.Từ biểu thị hướng di chuyển hoạt động.
Từ điển Việt – Bồ – La từ “xuống” cũng có các nét nghĩa như tiếng Việt hiện đại, và có thêm mục từ “xuống” tương ứng với mục từ “giáng” (từ nguyên Hán Việt)nghĩa là từ trên xuống (nghĩa đen), từ này giúp chúng ta hiểu cụm từ “xuống thế” nghĩa là“giáng thế” là đến thế gian với nghĩa bóng; từ này cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn từxuống thai”trong Kinh Tin Kínhmà tiếng Việt hiện đại không diễn đạt hết ý nghĩa. Hơn 100 năm sau Từ điển Việt – Bồ – La, “Tự vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc có các mục từ “xuống ơn” với nghĩa “bề trên ban ơn”;“xuống phước” nghĩa là“ban ơn cho ai”;“xuống thế” nghĩa là “đến thế gian”; như vậy từ “xuống” còn có nghĩa là “ban” và “đến”. Thiết nghĩ với ý nghĩa này sẽ giúp cho chúng ta hiểu rõ ý nghĩa một số kinh đọc có các cụm từ “xuống ơn”, “xuống thai”, “xuống thế”, “xuống phúc” cách rõ ràng hơn.

13. Dấu Thánh Giá (2)

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen
  • Dấu Thánh Giá chúng ta tuyên xưng hằng ngày, mỗi ngày, mọi nơi, mọi lúc thật ngắn gọn và đơn giản. Tuy nhiên khi cần phải giải thích thì không ít người trong chúng ta gặp khó khăn. Thật ra việc tuyên xưng một Chúa Ba Ngôi có lẽ ai cũng hiểu, nhưng khi được hỏi về cụm từ “nhân danh” khởi đầu Dấu Thánh Giá thì có lẽ chúng ta lúng túng.
Từ điển Việt – Bồ – La có mục từ “nhin danh cha” nghĩa là nhân danh cha, tác giả ghi chú thêm [hồ nghi không biết có cùng một nghĩa với ‘in nomine patris’ ?] tác giả để nguyên gốc từ Latin để không làm sai đi ý Thần Học của từ ấy. Trong Từ điển Việt – Bồ – La còn có mục từ “danh” nghĩa là “tên”. Tuy nhiên nếu kết hợp với “Tự vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc thì chúng ta sẽ thấy cụm từ này sáng rõ hơn. Trong “Tự vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc rất nhiều mục từ là phương ngữ Đàng Trong, chúng ta có từ “nhơn” (phương ngữ Đàng Trong) tương ứng với từ “nhân” (ngôn ngữ toàn dân) nghĩa là vì, bởi vì; cụm từ “nhơn danh”(phương ngữ Đàng Trong) tương ứng với cụm từ “nhân danh” (ngôn ngữ toàn dân) nghĩa là “vì tên”. Từ “nhơn danh” cũng chính là từ “nhân danh” trong công thức Dấu Thánh Giá chúng ta đang tìm hiểu, nghĩa là vì tên, vì danh.
Chúng ta cũng nên biết thêm một điều, trong lịch sử tiếng Việt đó là từ Hán Việt và thuần Việt có phần thay thế phân bố với nhau rất hài hòa. Từ Hán Việt luôn biểu thị sắc thái nghĩa trang trọng, khái quát; từ thuần Việt luôn biểu thị nghĩa thông thường, cụ thể. Ví dụ như: người ta thường sử dụng từ Hán Việt quốc tế phụ nữ chứ không ai nói quốc tế đàn bà, người ta gởi thiệp báo lễ thành hôn chứ không ai gởi thiệp báo lễđám cưới, người ta gọi giáo sư tiến sĩ A, chứ không nói thày dạy tiến sĩ A… Chính vì thế mà từ “nhân danh” (từ Hán Việt) tồn tại trong Dấu Thánh Giá với nghĩa trang trọng thay thế cho (từ thuần Việt) “vì tên”.
Mỗi khi làm Dấu Thánh Giá là chúng ta “nhân danh” Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúng ta có thói quen làm Dấu Thánh Giá trước bất kì công việc gì, ăn uống, ngủ nghỉ, học hành… ước gì chúng ta cũng ý thức tất cả các hoạt động ấy là “vì danh” Thiên Chúa Ba Ngôi, là “nhân danh” Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
(còn tiếp)
1 Tất cả các kinh, được trích từ các trang web sau:
2 Một số độc giả gởi đến lời thắc mắc và xin giải thích từ “nhân danh” trong “Dấu Thánh Giá”. Chúng tôi cũng dùng Từ điển Việt – Bồ – La để giúp quý vị hiểu rõ về ý nghĩa lời đọc.
(Nguồn : loanbaotinmung.net)