Thêm tiện ích

Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Tư, ngày 19 tháng 11 năm 2014

TÁI THÀNH LẬP THIẾU NHI THÁNH THỂ XỨ ĐOÀN CHÚA KITÔ VUA, GIÁO XỨ TÂN HƯƠNG, KONTUM





TÁI THÀNH LẬP THIẾU NHI THÁNH THỂ
XỨ ĐOÀN CHÚA KITÔ VUA, GIÁO XỨ TÂN HƯƠNG,
KONTUM

           Vào Chúa Nhật XXXIV Thường Niên 23.11.2014, nhằm lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, Thiếu Nhi Thánh Thể giáo xứ Tân Hương sẽ tổ chức nghi thức ra mắt Xứ đoàn Kitô Vua, thuộc Liên đoàn Mình và Máu Thánh Chúa Kitô giáo phận Kontum.
          Nhân dịp này, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về phong trào TNTT tại giáo xứ Tân Hương trước đây, giai đoạn ngưng hoạt động và quá trình tiến tới tái lập xứ đoàn Kitô Vua.

I. HỘI TÔNG ĐỒ CẦU NGUYỆN VÀ NGHĨA BINH THÁNH THỂ.
          Cũng như lịch sử bước tiến của phong trào TNTT Việt Nam và của giáo phận Kontum, TNTT giáo xứ Tân Hương xuất phát từ Hội Tông Đồ Cầu Nguyện (Apostolat de la prière), có nguồn gốc bên Pháp từ năm 1865 với mục đích bảo vệ tâm hồn các thanh thiếu nhi trước phong trào tục hóa đang lan tràn trong xã hội thời bấy giờ.
Năm 1929, Hội Nghĩa Binh Thánh Thể (Croisade Eucharistique, thành lập năm 1917 tại Pháp) - một nghành của Hội Tông Đồ Cầu Nguyện được các linh mục dòng Xuân Bích (Saint Sulpice) đưa vào Việt Nam. Hội Nghĩa Binh Thánh Thể đã nhanh chóng lan rộng đến các giáo phận trong nước Việt Nam vào những năm 1930-1940 của thế kỷ trước.
Tại giáo xứ Tân Hương (Kontum), cha Jules Alberty (cố Hiền, cha sở 1913-1948) đã thành lập Đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể từ trước năm 1946 [1], qui tụ và cổ võ các thiếu nhi sống theo tôn chỉ Nghĩa Binh Thánh Thể: siêng năng cầu nguyện, rước lễ, hy sinh và làm việc tông đồ.
Thời xưa, không có những trò chơi công cộng ngoài đời. Cha Alberty đã có sáng kiến, biến nhà xứ thành nơi giải trí cho các thanh thiếu niên trong xứ đạo.
Chúa nhật và các ngày lễ, thanh niên vào nhà xứ đọc sách, kể chuyện, đánh cờ, dự các trò vui tập thể. Trẻ nhỏ dùng phiếu điểm (bon-point) do cha cấp trong tuần để mua ảnh, tượng, viết, mực, giấy, đồ chơi do cha sắm sẵn [2].
Từ Hội Tông Đồ Cầu Nguyện này đã nuôi dưỡng và đào luyện nhiều lớp giáo dân nòng cốt phục vụ trong các hội đoàn như Ban chức việc, Hội bà mẹ, Ban hát.v.v.

Đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể Tân Hương những năm 1940-1950.
Ảnh: Photo La Lune, Kontum.
Minh Sơn sưu tầm do giáo dân cung cấp.

Về hình thức bên ngoài: quần áo màu trắng dài tay dành cho nam và áo dài và quần dài trắng dành cho nữ; nam thì đội mũ vành trắng, còn nữ thì mang lúp trắng [3].
Đến năm 1946, Nghĩa Binh Thánh Thể được thành lập tại nhiều địa sở Kinh và từ ngày 01.08.1949 với qui chế hướng dẫn của Đức Cha Gioan Sion (Khâm), Hội Nghĩa Binh Thánh Thể được thành lập tại hầu hết các địa sở Kinh và Dân tộc trong toàn giáo phận [4].
(Cũng nên nói thêm, vào năm 1935, cố Hiền cũng đã thành lập đoàn Hướng Đạo, trực thuộc Hội Hướng Đạo Công Giáo Việt Nam. Cha sở đưa thanh niên Nguyễn Hữu Đồ đi thụ huấn tại Huế để về tổ chức và huấn luyện các hướng đạo sinh trong giáo xứ Tân Hương) [5].
Tiếp sau thời cố Hiền, Nghĩa Binh Thánh Thể vẫn duy trì hoạt động đều đặn. Từ năm 1954 trở đi, do hoàn cảnh chiến tranh và nhiều lý do khác, hoạt động Đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể Tân Hương có phần giảm sút.

II. PHONG TRÀO THIẾU NHI THÁNH THỂ: GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN.

 Từ sau năm 1963, tổ chức đoàn thể này đã được cha Giuse Phạm Thiên Trường (cha sở Tân Hương 1963-1972) lập lại dưới hình thức phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể. 
Năm 1964, Hội Đồng Giám Mục VN thông qua dự thảo của Đại Hội Tuyên Úy Nghĩa Binh Thánh Thể toàn quốc lần đầu tiên nhóm họp, đồng ý thay đổi danh hiệu Nghĩa Binh Thánh Thể thành Thiếu Nhi Thánh Thể. Cha Giuse Phạm Thiên Trường được ĐGM đặt làm tuyên úy TNTT Giáo phận KonTum.   
Vào giai đoạn này:
I. Đối với tuổi trẻ thì Giáo xứ quan tâm hàng đầu về Giáo lý.           
Nhắm những chặng đường tuổi trẻ đi tới mà áp dụng việc dạy Giáo lý:
           - 3 năm học giáo lý vỡ lòng để được xưng tội rước lễ lần đầu
           - 3 năm học chuẩn bị Bí tích Thêm sức
           - 3 năm học để được Rước Lễ trọng thể
            - 3 năm sau cùng thì 2 năm học Thánh Kinh nhập môn Cựu ước - Tân Ước,
   1 năm giáo lý Vào đời (tất nhiên có chuẩn bị Hôn Nhân).
         II.Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể.
         Tuổi trẻ không phải chỉ phát triển về đời sống Đạo, nhưng còn về cả nhân bản và xã hội nữa. Vì thế cần hồi sinh Hội Tông Đồ Cầu Nguyện: nghành Nghĩa Binh Thánh Thể, ngày nay là phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể. Đối với giáo xứ Tân Hương, Nghĩa Binh Thánh Thể đã có khởi đầu 50 năm về trước. Quý Ông Bà từ 70, 80 tuổi vẫn còn nhớ cách làm “Kho Thiêng Liêng”.
          Thiếu Nhi Thánh Thể tại Tân Hương được tổ chức theo lứa tuổi căn cứ vào các lớp giáo lý: Ấu nhi, Thiếu nhi và Nghĩa sỹ.
          Để hướng dẫn phong trào có các Cha tuyên uý và điều hành có các Anh Chị như Phêrô Nguyễn Văn Nghĩa (thầy Nghĩa), chủ tịch xứ đoàn (thầy cũng là chủ tịch Phong trào TNTT giáo phận) với các phụ tá Micae Đỗ Văn cận, Ngân, Trọng, Sanh, Nhẫn.v.v. Tân Hương đã sớm tổ chức các Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng , gọi là “Đuốc Rừng I, II, III...”. Thường là tổ chức trại tại Parađi. Huynh trưởng các Xứ đạo trong Giáo phận cũng được mời tham dự.
          Nội qui và tài liệu sinh hoạt cho Phong trào TNTT do Tân Hương soạn thảo và được các cha Tuyên uý Phong trào Toàn quốc hiệu chỉnh và chấp thuận dùng cho toàn quốc.
          Huynh trưởng Tân Hương và các bạn quý xứ trong Giáo phận Kon Tum đã cùng đi tham dự  Đại Hội Phong trào Thiếu Nhi Toàn Quốc  tại Sài gòn năm 1972, và  được đặc biệt chú ý.
          Còn tại Tân Hương thì Huynh trưởng và các em thiếu nhi không thể quên “Hội Chợ Thiên Quốc”. Đó là phương thức khích lệ các em thi đua học tập, sinh hoạt, làm việc bác ái, làm việc lành, hy sinh, làm tông đồ...Mỗi việc tốt đều có vé. Cuối năm tổng kết vé đổi thành Đô la Thiên quốc. Trong Hội Chợ có nhiều cửa hàng, bán đủ thứ. Ai càng nhiều Đô la thì càng mua được nhiều. Các em có thể dẫn người thân và bạn bè ngoài xứ vào Chợ, nhưng muốn mua đồ thì cần phải có Đô la Thiên quốc. Còn Đô la (Mỹ kim) thì Hội Chợ Thiên quốc không xài. Ngay khi các em mời bạn bè vào quán nước hằng sống SAMARI, hay quán bún riêu SARA hoặc quán phở GIACÓP...cũng phải bao bằng Đô la Thiên quốc. Các em hãnh diện và thú vị lắm...!!!
(Theo “Một thoáng nhìn giáo xứ Tân Hương từ 1963-1972”, Lm Giuse Phạm Thiên Trường, nguyên chính xứ Tân Hương 1963-1972, trích trong “Kỷ yếu giáo xứ Tân Hương 10.2006”).



Sinh hoạt TNTT Gx Tân Hương trước 1975

III. GIAI ĐOẠN THẦM LẶNG VÀ HỒI SINH.
Từ sau 1972 cho đến 1975, do hoàn cảnh chiến tranh, phong trào TNTT tại giáo xứ bị đình trệ. Tiếp đến  biến  cố  30/04/1975, theo hoàn cảnh chung toàn quốc, phong  trào  TNTT đã tạm ngưng hoạt động.
Ngày 28.08.2006, Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, giám mục giáo phận Kontum ký quyết định tái lập phong trào TNTT.
Cuối năm 2008, lĩnh ý cha sở Louis Nguyễn Quang Vinh, Trưởng Micae Đỗ Văn Cận đã qui tụ một số em thiếu nhi giáo lý bắt đầu sinh hoạt để gởi đi huấn luyện dự trưởng. Và 20 em thiếu nhi Tân Hương (cùng một số em Võ Lâm) đã tham dự khóa đào tạo dự trưởng tại giáo xứ Phương Quý từ 31.01 đến 02.02.2009.
Ngày 11.02.2009, trong cuộc họp các dự trưởng TNTT Tân Hương và Võ Lâm, dưới sự chủ tọa của cha sở Louis Nguyễn Quang Vinh, Trưởng Micae Đỗ Văn Cận (Tân Hương), Trưởng P.X Nguyễn Xuân Hiếu (Võ Lâm), cha sở đã chính thức công bố tái lập phong trào TNTT giáo xứ Tân Hương (và lập PT TNTT giáo xứ Võ Lâm), và chấp thuận lịch sinh hoạt hàng tuần được các em biểu quyết.
Sau một thời gian rèn luyện, đồng hành cùng các em thiếu nhi giáo lý trong giáo xứ, các dự trưởng đã qua khóa huấn luyện Đuốc Rừng tại giáo xứ Kon Rơbang từ ngày 21-22.6.2013 để trở thành huynh trưởng cấp I. Trong thánh lễ dành cho Thiếu Nhi lúc 9g30 sáng Chúa Nhật 15.09.2013 tại nhà thờ Tân Hương, sau bài giảng của cha chính xứ, đã diễn ra Nghi thức Tuyên hứa của 17 em huynh trưởng cấp I (đã được huấn luyện tại giáo xứ Kon Rơbang từ ngày 21-22.6.2013). Các em đã được chính thức tuyên hứa, muốn dấn thân để phụng sự Chúa, phụng sự Giáo Hội và phục vụ giới thiếu nhi với ý thức rằng: người Huynh Trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể cần có một đời sống nội tâm cao độ, kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể trong Mầu Nhiệm Thánh Thể và Phục Sinh của Người. Các em được Sai đi và Trao Khăn Quàng Huynh Trưởng, do cha sở Giuse Đỗ Hiệu, với sự chứng nhận của xứ đoàn trưởng TNTT Tân Hương Giacôbê Hồ Cửu, một số huynh trưởng trong Ban quản trị xứ đoàn, tất cả đều là các huynh trưởng trước 1975.

  






Tuyên hứa huynh trưởng cấp I ngày 15.09.2013
  
Và vào Chúa Nhật XXXIV Thường Niên 23.11.2014 tới đây, lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, được sự chấp thuận của cha Tuyên úy Liên Đoàn Mình Và Máu Chúa Kitô Gp Kontum và cha Tuyên úy Hiệp Đoàn Kitô Vua miền Kontum, tại nhà thờ giáo xứ Tân Hương sẽ diễn ra nghi thức thành lập và ra mắt xứ đoàn Kitô Vua Tân Hương. Xứ đoàn gồm hơn 200 đoàn sinh, chia làm 3 ngành: Ấu Nhi, Thiếu Nhi và Nghĩa Sĩ, được sự hướng dẫn của cha sở Giuse Đỗ Hiệu và cha Tuyên Uý Hiệp Đoàn Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn.

Vài hình ảnh tập nghi thức (CN 16.11.2014) để chuẩn bị cho ngày thành lập






Nhân dịp mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, là bổn mạng của Hiệp đoàn Kitô Vua miền Kontum và mừng ngày tái lập Xứ đoàn Kitô Vua Tân Hương, Hiệp đoàn đã tổ chức Trại khai mạc vào chiều thứ Bảy 22.11.2014, từ 17g-21g với chương trình tĩnh tâm và đốt Lửa Trại. Đúng ngày lễ CN 23.11.2014, chương trình được nối tiếp từ 8g với nghi thức Chào cờ, sau đó vào nhà thờ chuẩn bị thánh lễ và nghi thức tuyên hứa. Sau thánh lễ: giải lao sinh hoạt, dùng cơm trưa…13g30-14g15 chầu Mình Thánh Chúa. Tiếp theo sinh hoạt và kết thúc bế mạc lúc 15g30 cùng ngày.
Nguyện xin Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ luôn đồng hành với các Trưởng, các đoàn sinh trong suốt cuộc đời làm Kitô hữu, làm chứng nhân tình yêu của Chúa trong giáo xứ và giữa xã hội.

                                                   Tân Hương, 19.11.2014
                                                          Phêrô Minh Sơn        
_____________________________
Chú thích:
-[1] : Đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể Tân Hương đã được Cố Hiền thành lập và hoạt động từ trước, đến năm 1946 thì thì lan rộng thành lập tại các địa sở người Kinh; và năm 1949 tại các địa sở Dân tộc. x. Echos de la Mission, Vicariat Apostolique de Kontum 15.08.1949, tr. 4.    
-[4] : x. Echos de la Mission, Vicariat Apostolique de Kontum 15.08.1949, tr. 4.
-[2] và [5] : x. Nguyễn Hữu Phú, “Tân Hương, làng Việt đầu tiên trên xứ Thượng”, Kontum 1974.  
-[3] : xem thêm: “Lịch sử và bước tiến phong trào TNTT”, website TNTT Việt Nam http://tnttvn.com/, phần “Hội Nghĩa Binh Thánh Thể”.             


Thứ Sáu, ngày 14 tháng 11 năm 2014

MỪNG KÍNH THÁNH STÊPHANÔ THÉODORE CUÊNOT THỂ THÁNH TỔ CỦA GIÁO PHẬN KON TUM 14.11.2014




Kontumquêhươngtôi xin giới thiệu ghi nhanh của Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận Kontum về Thánh Lễ  MỪNG KÍNH THÁNH  STÊPHANÔ THÉODORE CUÊNOT THỂ - THÁNH TỔ CỦA GIÁO PHẬN KON TUM,  NGÀY TRUYỀN THỐNG YAO PHU và LỄ GIỖ 3 NĂM ĐỨC CHA ALEXIS PHẠM VĂN LỘC. 
Hơn 2.300 giáo phu trong toàn Giáo phận qui tụ về nhà thờ Chính tòa từ trưa ngày 13/11, để tĩnh tâm. Sáng ngày 14/11 gần 3.500 tín hữu kinh cũng như dân tộc hiệp dâng lễ cùng Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung chủ tế và trên 60 linh mục trong Giáo phận đồng tế rất sốt sắng trong ngày trọng đại chung của Giáo phận. 

MỪNG KÍNH THÁNH  STÊPHANÔ THÉODORE CUÊNOT THỂ
THÁNH TỔ CỦA GIÁO PHẬN KON TUM
*********************************************************
NGÀY TRUYỀN THỐNG YAO PHU
LỄ GIỖ 3 NĂM ĐỨC CHA ALEXIS PHẠM VĂN LỘC

Năm nào cũng thế, cứ gần đến ngày mừng kính Thánh Giám Mục Tử Đạo Stêphanô Théodore Cuênot  Thể, là toàn Giáo phận Kon Tum lại  bừng lên hào khí của Vị Thánh Tổ, Đấng châm Lửa Đức Tin và Khai sáng  ra Giáo phận Kon Tum thâm u xa xôi và huyền bí.
Trước khi tường thuật về Thánh Lễ với những sự kiện như đã nêu trên, Ban Mục Vụ Truyền Thông Giáo Phận Kon Tum rất hân hoan kính mời quý đọc giả cùng tìm hiểu xem “ Hào Khí ” của Vị Thánh Tổ Giáo Phận là như thế nào.

ĐÔI GIÒNG LỊCH SỬ
 Từ hơn 175 năm về trước, Ngày 19.11.1839Đức Cha Stêphanô Cuênot Thể đã viết cho Ban Tư Vấn Thánh Bộ Đức Tin :
Một trong những nguyện vọng tha thiết nhất của tôi là mở một con đường cho Tin Mừng đến tận Sông Cả ở Lào. Và mặc dù đã thất bại 20 lần, mới đây tôi đã thử một lần nữa. Vô phúc thay! Lần này cũng không hơn gì những lần trước. Chúng tôi chỉ có một cao vọng là làm đẹp lòng Chúa.” (2Cr 5,9)
Nhưng rồi, với một ý chí sắt đá, Ðức cha Cuénot không chùn bước, ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác nơi Chúa Thánh Thần. Năm 1848, một năm có tính quyết định đã đến.
Vị mục tử này hướng tới thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Do, còn gọi là An, một chủng sinh vừa tốt nghiệp Ðại chủng viện Pinang về nước. Ngài thấy nơi con người thông minh, quả cảm và khiêm tốn này có khả năng mở đường tiến sâu vào thế giới các sắc dân miền núi phía Tây.
Thầy Do đã khéo léo đóng vai một người đầy tớ trung thành và cần mẫn gánh hàng cho một nhà buôn người Kinh. Sáu tháng đi từ làng này tới làng khác, thầy đã tiếp cận với dân Ba Na, nói được tiếng nói của họ, biết phần nào phong tục tập quán cùng thu thập được ít điều về địa hình địa vật của vùng cao. Thầy mau mắn về Gò Thị tường thuật lại cho vị chủ chăn ngày đêm ngóng chờ tin vui.
Ðược tin vui, Ðức cha cử ngay một đoàn thừa sai lên đường và cắt cử thầy Do làm trưởng đoàn, Một đoàn buôn chính hiệu, có 4 chủng sinh cùng đi. Chính “cái chính hiệu với đồ hàng cồng kềnh của nhà buôn” này đã làm lóa mắt những kẻ tham chặn đường cướp hết. Các vị thừa sai đành phải bỏ của chạy lấy người.
Qua năm 1849, lại một đoàn truyền giáo khác lên đường. Ðoàn gồm có cha J.P. Combes Bê, 4 thầy giảng và một số chủng sinh. Ði từ Gò Thị, lên Bến, tới trạm Gò, đoàn gặp phải một đàn voi rượt đuổi. Tất cả bỏ chạy tán loạn, thoát được cơn giận của voi, về tới Bình Ðịnh, phái đoàn chạm phải cơn “thánh nộ” của Ðức cha Cuénot. Ðược nghỉ 15 ngày, phái đoàn lại lên đường, lúc đó là đầu năm 1850.
Lên đường lần này có thêm cha Fontaine Hoàn (sau gọi là Bok Phẩm) với 7 thầy. Ðến Trạm Gò, tiến vào làng Baham, đi qua làng Kon Bơlu, phái đoàn tiến sâu vào làng Kon Phar. Ðức cha đã ân cần dặn dò nhiều lần “nhớ” phải tránh đường mòn của các lái buôn người Kinh, phải tránh tù trưởng Bok Kiơm kiêm chức vị “quan triều đình Huế” có nhiệm vụ chặn đường xâm nhập của các thừa sai.
Ngày núp, đêm đi, vạch rừng, lội suối, leo đèo, với đủ thứ đe dọa của rừng thiêng nước độc, của khí hậu, của thú dữ. Lệnh “không được trở lại” vẫn văng vẳng bên tai. Nhưng “Ðất động! Trời sập! Ðoàn gặp đúng Bok Kiơm! Biết làm sao bây giờ? Hồn xiêu, phách lạc, hết đường “chạy trốn”, cả đoàn như chết đứng giữa trời! Chính lúc đang đứng đơ như những tượng gỗ, thì “con người hung dữ kia lại lên tiếng trước: “Sao? Quý vị là ai? Cứ nói thật đi, tôi sẽ giúp cho!”
Thế là lại thêm một bất ngờ nữa! Thay vì đi hạch họe, bắt nộp cho triều đình, Bok Kiơm lại tỏ ra thân thiện ngay. Có lẽ cũng chính cái vẻ mất hồn khiếp vía trên các khuôn mặt những con người không có một tham vọng nào khác ngoài tình thương mà liều mình đi đến với những anh chị em miền đất xa lạ, nên con người “đáng khiếp” kia bỗng trở thành “con người dễ thương”. Ông đã trở thành một Cyrus miền truyền giáo Tây Nguyên! Phái đoàn tiếp tục đi vào làng Kon Kơlang…( Trích Lược Sử Giáo Phận Kon Tum).
Và cứ thế, ngọn lửa Đức tin lan rộng khắp miền.
Trong  bài :  “Vần thơ Đạo ngày ấy ”,Tác giả Paul  T. P. N. đã giúp chúng ta mường tượng ra  được những ngày tháng ban đầu của Giáo Phận Kon Tum mến yêu như sau:
            ………………………….............
Đầu giây mối nhợ ai gầy,
Đem đàng chỉ lối ở đây bây giờ.
Xưa kia vốn những bụi bờ,
Rừng cao núi rậm mịt mờ liên liên.
Ấy nhờ các đấng chăn chiên,
Dâng mình tế lễ cho miền mọi cao.
Đã tìm lên xứ Trà Ngao,
Những hồi chưa có đàng vào nẻo ra.
Thương thay cho bấy các Cha,
Vì con chiên lạc đàng xa chẳng nài,
Giày sàn đạp sỏi chông gai,
Miễn sao cho đặng truyền lời Evan.
Đành lòng cam chịu gian nan,
Đem người ngoại giáo hiệp ràn Hội-công.
Rày người giữ đạo rất đông,
Minh mông khắp xứ khôn cùng kể ra
………………………………………………..
 (Trích “Kontum – Vần thơ Đạo ngày ấy…”, Sưu tập thơ ca Giáo phận Kontum thập niên 1930 – Lê Minh Sơn biên soạn, 04.2013).

            Là đấy, Kon Tum ngày xưa!
            Và cho đến hôm nay,  Ngọn Lửa Đức Tin ngày càng được thắp sáng trên các núi đồi,rừng rậm và phố phường của cả hai miền Gia Lai – Kon Tum.
Giáo Phận lại thêm một lần mừng kính Thánh Stêphanô Cuénot  trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và biết ơn vị Thánh Tổ vĩ đại của mình.
image001
Thánh Giám Mục Stêphanô CUÉNOT (Thể)
Vị Khai Sáng Miền Truyền Giáo Kon Tum
(1802-1861)

            Giáo Phận Kon Tum cũng chọn ngày mừng kính Thánh Tổ hằng năm, để làm Ngày Truyền Thống Yao Phu.
Đã hơn 100 năm qua , Các Yao Phu đã đồng lao cộng khổ với các vị cha anh để loan báo Tin Mừng cho đồng bào quê hương của mình.
Hội Yao Phu quả là một hồng ân và khí cụ tuyệt vời mà Thiên Chúa đã thương ban cho Miền Truyền Giáo Tây Nguyên.
Đây quả là một kiệt tác của Chúa Thánh Thần!
Ý tưởng đào tạo các Yao Phu cho cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên đã được manh nha từ lâu trước. Nhưng phải đợi tới năm 1908, công trình này mới được thừa nhận công khai và chúc phúc qua việc Ðức Cha D.Grangeon lên làm phép khánh thành Trường Kuênot cùng bổ nhiệm Cha Martial Jannin làm vị Giám Ðốc tiên khởi. Ðây được coi như là ngày sinh nhật của Hội Yao Phu.
Sách Luật Yao Phu, xuất bản năm 1915, viết rõ:
“Chúng tôi lập Trường Kuênot, mục đích là muốn đào tạo các trẻ nhỏ người dân tộc Jơrai, Bahnar, Xơdang, muốn họ biết Chúa hơn mọi người khác, để sau khi ra trường, chúng tôi trông cậy vào họ sẽ giúp linh mục chúng tôi, mà đi giảng đạo cho các dân Jơrai, Bahnar, Xơdang” (Luật Hội Các Chú Yao Phu, Kontum 1915, Phần I, I).
 Trường Kuenot, truờng đào tạo tuyệt vời với thành quả xuất sắc.
Lộ trình đào tạo Yao Phu khá dài và công phu. Khởi đi với các em dân tộc nam từ cấp 1 đến cấp 2, sau lên cấp 3. Tất thảy cũng hơn 10 năm. Ðây mới là giai đoạn ngồi ghế nhà trường. Tiếp đến là giai đoạn đào luyện qua thực tế! Theo 3 cấp. Mỗi cấp 3 năm. Tốt nghiệp ra trường, “học trò” được mang danh “chú Yao Phu” tập sự, rồi lên Chú Yao Phu bậc Nhì, Chú Yao Phú bậc nhất, sau cùng là Bok-Thầy Yao Phu.
Hơn 100 năm qua, các Yao Phu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữa cộng đoàn, đặc biệt suốt 35 năm qua vắng bóng chủ chiên. Anh chị em đã tận tụy, hy sinh phục vụ cộng đoàn bất chấp mọi “bão tố của lịch sử”. Các Yao Phu vẫn trụ được, vẫn là chỗ dựa tinh thần cho anh chị em đồng đạo.”
( Nguồn: gpkontum.wordpress)
 image003

             Ngày 17 tháng 11 năm 2014 này cũng là Giỗ 3 năm của Đức Cố Giám Mục Alexis Phạm Văn Lộc, Vị Giám Mục Việt Nam tiên khởi của Giáo Phận Kon Tum.
Nhân dịp quý Linh Mục  và giáo dân trong Giáo Phận quy tụ về mừng kính Thánh Tổ, và nhân dịp Ngày truyền thống các Chú Yao Phu- một cuộc hội tụ về nhà Thờ Chính Tòa đông đủ- nên Đức Giám mục Giáo Phận đã quyết định kết hợp Lễ Giỗ của Đức Cha Alexis vào ngày hôm nay để Giáo Phận có cơ hội kính nhớ và cầu nguyện cho Ngài cách đặc biệt hơn.

NHỮNG CHUẨN BỊ GẦN & KHAI MẠC NGÀY TRUYỀN THỐNG
  Ba ngày lễ lớn được kết hợp lại trong ngày 14/ 11/2014 này!
Thật trang trọng và quý hóa!
Từ cả tuần lễ nay, các Yao Phu đã được Cha Xứ của mình giúp chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt tâm linh.
Khoảng từ 13 giờ chiều hôm qua,13/11/2014  thì các Yao Phu từ khắp Giáo phận , có nơi xa gần hai trăm cây số, (nhưng chẳng có xứ nào nề hà..!) đã hân hoan quy tụ về Nhà Thờ Chính Tòa. Cho đến trước giờ cơm tối, số Yao Phu về tham dự Ngày truyền thống đã lên tới hơn 2.300 vị, chưa kể những người thân cùng đi để cùng mừng Lễ.
Đến 15 giờ thì mọi người đã ổn định trong Nhà Thờ, sau khi nghe Ban Điều Hành thông báo chương trình của hai ngày họp mặt, tất cả đã được tham dự một giờ Chầu Thánh Thể  khai mạc Ngày Hội vô cùng sốt sắng dưới sự hướng dẫn của Cha Bề Trên các Yao Phu – Cha Phaolô Nguyễn Đức Hữu.
Sau khi cùng nhau thờ lạy, sẻ chia mọi ngọt bùi của Ơn Gọi Yao Phu với Chúa Giê su, các Yao Phu được Cha Bề Trên huấn đức , nhắc nhở  và giúp hâm nóng lại Tinh Thần và Linh Đạo của Yao Phu.
Các vị cũng được tạo cơ hội để chia sẻ cùng nhau những  ưu điểm mà Giáo xứ và Gia đình mình đã đạt được trong Năm Tân Phúc Âm hóa Gia đình. Các vị cũng không ngại nêu lên những tồn tại, những khuyết điểm mà bản thân mình đã chưa cố gắng đủ nên cũng kéo theo những hệ lụy cho Giáo Xứ và gia đình của mình…
Những sẻ chia vừa thánh thiêng, vừa thực tế đã chạm đến Sứ Vụ của các Yao Phu, chạm đến tận sâu thẳm cõi lòng của từng người. Những thuận lợi, những khó khăn, những đòi hỏi phải cống hiến sức lực, trí tuệ…
Tất cả còn đang rất sinh động và cuốn hút thì thời gian đã hết!
Mọi người được mời nghỉ giải lao và chuẩn bị tâm hồn bước vào Thánh Lễ khai mạc Ngày Truyền Thống.
Đến 17 giờ 30 phút Thánh Lễ được cử hành do Cha Bề Trên Yao Phu Chủ Tế. Cùng đồng tế, có Cha Quản lý Giáo Phận kiêm Cha Sở Nhà Thờ Chính Tòa, và quý Cha Sở Măng La, Cha Sở  H’ra Phú Yên.
Lúc này thì mọi người đã quy tụ về chật kín, không chỉ trong Nhà Thờ, mà tất cả phía ngoài hành lang, tràn cả xuống dưới sân…Trong ánh nhá nhem của buổi chiều buông, hầu như ai cũng thấy lòng mình trầm xuống… và chắc chắn trong ánh chiều này, nhiều người đã gặp được Chúa Giêsu như hai người môn đệ năm xưa đã gặp được Ngài trên đường Emmau!
Thánh Lễ  Khai mạc kết thúc vào lúc 18 giờ 15 phút. Sau những dặn dò của Cha Bề Trên, tất cả được mời ra dùng cơm tối. Thật cảm động và gương mẫu, các Yao Phu đã rất nghiêm chỉnh tuân theo sự hướng dẫn của Ban Điều Hành, xếp hàng  đi cả một đoạn đường để đến nhận những  phần cơm đã được dọn sẵn!
Vào lúc 20 giờ, mọi người lại tề tựu trong Nhà thờ để đón nghe những lời khích lệ, khuyên bảo và sửa sai của Cha Tổng Đại Diện Phêrô Nguyễn Vân Đông.
Đến 21 giờ thì buổi họp giải tán, các Yao Phu yên lặng về các lều trại đã chuẩn bị sẵn để nghỉ đêm. Trong khi đó các người thân của họ cũng vui vẻ trải chiếu trên các thảm cỏ trong sân nhà thờ, chuyện trò khúc khích rồi cũng ngủ yên lúc nào không biết dưới bóng đêm nhờ nhờ với tấm mền mỏng kéo qua kéo lại..!

THÁNH LỄ MỪNG KÍNH THÁNH TỔ PHỤ
LỄ GIỖ ĐỨC CHA ALEXIS & NGÀY TRUYỀN THỐNG YAO PHU

Không cần phải ai nhắc nhở, mọi người đã thức dậy rất sớm sáng nay.
Từ 4 giờ sáng Nhà Thờ lại cũng đã chật kín, từ trong ra ngoài. Đúng 4giờ 30 phút, chú Yao Phu trưởng bắt kinh sáng. Và đến đúng 5 giờ 15 phút thì  quý Cha, quý Tu Sĩ và các anh chị em Giáo dân ở xa đã về. Thánh Lễ được bắt đầu.

image005  
image007

H 12
Đoàn Đồng Tế từ mặt tiền Nhà Thờ tiến vào Thánh Đường với hai hàng Yao Phu trẻ đón rước. Vì Đức Cha Micae vắng nhà, nên Đức Cha Phêrô làm Chủ Tế.
IMG_4812 [1280x768]
 Sau khi thờ lạy Chúa, Cha Tổng Đại Diện và Cha Bề Trên Yao Phu đã mời cùng tháp tùng Đức Cha Chủ Tế đến trước tượng Thánh Cuênot để  bái tôn Vị Thánh Tổ cùng chào kính và thắp  hương trước Di Ảnh của Đức Cha Alexis .
 Thánh Lễ được bắt đầu trong bầu khí trang nghiêm,trầm ấm và sốt sắng.
image009
 H 6
Trong bài chia sẻ, cha Tổng Đại Diện đã lược qua tiểu sử  lẫy lừng của Thánh Tổ Phụ Cuénot; không chỉ tại Giáo phận Kon Tum mà là toàn các Giáo phận Đàng Trong.
 image011
 Ngài nhắc nhở mọi người nhớ đến công ơn của Đức Giám Mục Alexis kính yêu, người đã dẫn dắt Giáo Phận cách vững vàng trong những  tháng  ngày ngập đầy khó khăn của hơn ba mươi năm về trước ; và căn dặn mọi người phải nhớ cầu nguyện cho Đức Cha. Ngài còn dặn riêng các Cha phải về Nhà Xứ tổ chức Lễ Giỗ và nói cho Giáo Dân biết về công ơn của Đức Cha.
Ngài cũng nói lên vai trò và tầm quan trọng của các Yao Phu. Khuyên các vị hãy hãnh diện và cố giữ đúng cương vị của mình, làm gương sáng và hết sức dấn thân
Cuối cùng ,Cha nhắc mọi người cầu nguyện cho quý Cha hôm nay kỷ niệm 6 năm ngày Thụ Phong Linh Mục, cũng đang hiện diện trong Thánh Lễ này.
 H 
image014

image016
 image018
 Sau Thánh Lễ, Đức Cha Phêrô cùng quý Cha và mọi người ra viếng mộ Đức Cha Alexis. Các Yao Phu bởi qua đông, nên vẫn phải đứng lại trong Nhà Thờ và hướng ra phần mộ của Đức Cha Alexis thôi; vì sau đó Cha Bề Trên còn nhiều điều phải dặn dò trước khi chia tay về lại nơi phục vụ của mình.
 Tạ ơn Chúa đã cho Giáo Phận chúng con có được Thánh Tổ Cuénot …
Tạ ơn Chúa đã cho duy nhất Giáo Phận chúng con có được Hội Yao Phu …
Tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Phận chúng con vị Giám Mục là Đức Cha Alexis…
Tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Phận chúng con có các Linh Mục thánh thiện và nhiệt thành.

Xin chúc mừng Quý Cha nhân ngày kỷ niệm Thụ Phong Linh Mục!
Xin chúc Hội Yao Phu ngày càng phát triển trong chương trình của Thiên Chúa.

                                                            Ban Mục Vụ Truyền Thông Giáo Phận Kon Tum
                                                                         Ghi Nhanh, ngày 14/11/2014
GPKONTUM (14/11/2014) KONTUM

VIDEO THÁNH LỄ MỪNG KÍNH THÁNH  STÊPHANÔ THÉODORE CUÊNOT THỂ - THÁNH TỔ CỦA GIÁO PHẬN KON TUM 14.11.2014
(Ban Mục Vụ Truyền Thông Giáo Phận Kon Tum)

Thứ Hai, ngày 10 tháng 11 năm 2014

Cãi chày, cãi cối với… cái chày, cái cối!




Cãi chày, cãi cối với… cái chày, cái cối!

NGUYỄN DƯ

Chày cối Việt Nam có mặt liên tục suốt từ thời các vua Hùng cho đến tận ngày nay. Sinh sống ở thôn quê hay tỉnh thành, hầu như nhà nào cũng đã có lúc có chày cối. Giã gạo, xay bột, giã giò, giã cua. Làm bánh, nấu chè, bếp núc… Không có chày cối thì không xong.
Cãi chày, cãi cối với… cái chày, cái cối!
Giã gạo (1884)
Chày cối được cất trong nhà, được rước ra sân đình. Chày cối có mặt tại hội hè, cưới xin, tang ma. Buồn vui cùng mọi người.

Chày cối quấn quýt bên nhau. Chung thủy một chày một cối. Hợp tác làm ăn. Đâu cần thì gọi, chày cối ra tay giã cho một trận là đâu vào đấy.

Nhưng cũng có lúc chày cối bị chia lìa. Anh đường anh, tôi đường tôi. Mạnh ai nấy sống.

Làm bánh dày chẳng hạn. Chỉ cần trải xôi trên chiếc chiếu buồm dấp ướt, dùng chày cũng bịt chiếu buồm mà giã. Không cần cối.

Ngược lại, xay thóc xay gạo hay xay bột thì chỉ có cối, không cần chày.

Giã giò là trường hợp đặc biệt hiếm có. Một cối hai chày!

Chày cối được chia thành đẳng cấp. Ăn chắc mặc bền có cối đá. Phần đông dùng cối gỗ. Ăn xó mó niêu thì cối đất cũng xong. Chày giã thông thường là chày gỗ. Trừ chày tre của dân nghèo và chày đá của một vài ông lang.

Đại khái, có mấy loại chày cối lớn nhỏ khác nhau: - Lớn nhất, cồng kềnh nhất là cối giã gạo.

Giã ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Giã ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya giã gạo có tao có mày. 


Cối chôn dưới đất. Chày được lắp vào đầu một cần gỗ dài hai ba thước. Cần rất nặng, người giã gạo phải đứng lên cần, dùng tất cả sức nặng của thân hình để điều khiển cho cần chuyển động lên xuống. Ai cũng… ngại giã gạo một mình. Nhiều người cùng giã thì… vui hơn, đỡ mệt hơn!

- Làng An Thái làm giấy cũng dùng một loại cối lớn cồng kềnh khác để giã vỏ dó.

«Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây hồ» 


Dân làng giã dó bằng chày máy «xanh sạch đẹp». Vận dụng sức bật của một cành tre để nâng chày lên cao.

- Cối giã giò nhỏ hơn hai loại cối trên. Lòng cối khá sâu, rộng. Giã giò phải là dân «vai u thịt bắp» mới kham nổi. Cả ngày cởi trần «đánh vật», hai tay «múa» hai cái chày nặng chình chịch.

Giã giò con cò biết bay

Xương xông, lá lốt làm chay cho cò.

Câu ca dao mới nghe thấy ngộ nghĩnh, thậm chí tưởng là có mâu thuẫn. Giã giò để làm chay cho cò. Dùng đồ mặn để cúng chay à?

Chữ chay (Việt) là do chữ trai (Hán) mà ra. Trai nghĩa là ăn chay. Trai tăng là thầy tu ăn chay.

Chữ trai còn có thêm một nghĩa khác. Trai tiếu là sư làm đàn cầu cúng (Hán Việt từ điển Đào Duy Anh). (Hán Việt tự điển Thiều Chửu chép là chai, chai tiếu).

Làm chay của câu ca dao được hiểu theo nghĩa là làm đàn cầu cúng. Nôm na là làm cỗ cúng. Cỗ cúng của dân gian có thể là cỗ mặn, không bắt buộc phải là cỗ chay.

- Cối giã cua, giã vừng, bếp núc hàng ngày tương đối nhỏ, lòng cối chỉ bằng cái bát ăn cơm. Cối bằng đá hay gỗ.

- Nhỏ nhất là cối giã trầu bằng bạc, bằng thau của các cụ nhà giàu. Cối bỏ túi, cất trong hầu bao, đi chơi mang theo được.

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay
Ông gẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Mái tóc chòm xanh, chòm lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Còn một nỗi này thêm chán ngắt,
Đi đâu dở những cối cùng chày.
              (Nguyễn Khuyến, Than già)

Chày cối của tín ngưỡng, phong tục 

Chức năng của chày cối là đâm, giã, nghiền, xay. Ngoài chuyện phục vụ đời sống hàng ngày, chày cối còn có mặt trong vài tình huống đặc biệt:

Thời Hùng Vương, nhà nào có người chết thì lấy chày cối ra giã để báo tin buồn với làng xóm. Một cách loan báo như loa phát tin của phường xóm bây giờ.

Chày cối được tín ngưỡng phồn thực dùng làm biểu tượng của sinh thực khí đực (chày) và cái (cối). Giã cối tượng trưng hành động trai gái giao phối.

Hội làng được chày cối chủ trì, giúp vui hoạt náo. Giã cối tạo âm thanh rộn ràng, động tác gợi cảm. Kích thích, khuyến khích trai gái múa hát, tỏ tình(1).

Đời sau, không biết từ bao giờ, tín ngưỡng phồn thực chày cối bị nõn nường thay thế. Nõn (sinh thực khí nam) nường (sinh thực khí nữ) rất trần tục, trần trụi.

Một vài làng xã miền Bắc “quá khích”, cử 18 cặp trai gái rước ba mươi sáu cái nõn nường. Đám rước được một cụ giàu kinh nghiệm bản thân dẫn đầu. Cụ biểu diễn cảnh nõn nường quấn quýt nhau. Đâm vào, rút ra. Trai gái theo sau múa theo cụ. Dân làng ai cũng thích xem rước nõn nường.

Có người chế diễu: 36 cái nõn nường, cái để đầu giường là 37.
 
Đón dâu ngoài cổng
Tranh dân gian Oger (1908) có tấm Đón dâu ngoài cổng cho thấy tục giã cối còn có mặt cả trong lễ cưới và tục này còn tồn tại ở một số làng đến tận đầu thế kỉ 20.

Hôm làm lễ rước dâu, nhà trai cho đặt sẵn một bộ chày cối trước cổng. Chờ lúc họ nhà gái đến gần thì sai người giã cối đón mừng cô dâu. Giã cối tạo tiếng vang rộn rã, đồng thời chúc cô dâu sớm có “con bồng con bế” cho vui cửa vui nhà.

Tấm tranh Oger kín đáo, dí dỏm cho biết nhà trai mong muốn cô dâu chú rể hạnh phúc đến độ… chày hăng say đâm vỡ cả cối, chảy cả nước!

Chày cối trong văn học 

Bài Phú đồ ngông của Nguyễn Khuyến có câu:

Lương nguyệt đốn lại nài nhất đệ, bàn mỏng bàn dày;
Tiền hương khoa toan bổ đồng môn, thu chày thu cối 

Có thể phỏng đoán là Nguyễn Khuyến làm bài Phú đồ ngông trong khoảng thời gian cụ ngồi dạy học,mô tê răng rứa, trong dinh riêng của Hoàng Cao Khải, vào những năm 1891 - 1893(2).

Ngoài Nguyễn Khuyến ra, vài tác giả (khuyết danh) khác cũng nói đến chày cối. 

Sách Văn đàn bảo giám có bài Lạc đệ phú, trong đó có đoạn:

Văn làm tối như mực, đặc như bí, kiếm chác lều kia lều nọ, hỏi một hỏi hai.
Sách quên đặc như thuổng, tối như đêm, nghe hơi câu được câu chăng, viết chày viết cối(3).

Bài Lạc đệ phú còn được chép dưới tựa đề Thi hỏng tự cười mình:

Văn làm thì đặc như bí, dai như đỉa, chạy lều này sang lều khác, vi nhất vi nhị;
Sách thì quên, tối như hũ, mờ như đêm, nghe câu được câu chăng, viết chày viết cối(4).

Bài phú được làm năm nào?

Có thể dựa vào câu Thuốc Bách tính, đóm diêm (bao diêm), điếu ống... để đoán.

Diêm là tiếng Bắc (trong Nam gọi là quẹt). Ngoài Bắc có diêm từ bao giờ?

Có từ ngày:

Em là con gái nhà Diêm 
Đến tháng lĩnh tiền được bốn đồng hai
Một đồng em để cho giai
Hai đồng cho mẹ, đồng hai ăn quà.
                (Ca dao ngạn ngữ Hà Nội)

Nhà Diêm là nhà máy làm diêm (Manufacture d’allumettes) của Pháp tại Hà Nội, nằm tại địa điểm nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo sau này. Diêm và bao diêm chỉ có sau khi Pháp đặt nền bảo hộ Bắc kỳ (1884).

Bài phú Lạc đệ hay Thi hỏng tự cười mình được sáng tác sau năm 1884.

Chày cối có mặt trong nhiều bài phú, bài vè khác:

Nghề sách mít, lộn phèo lộn phổi, sáo mép chính văn, tập chú, lít nhít lăng nhăng
Giọng văn cùn, viết cối viết chày, múa mồm hậu cổ, tiền đề, lơ chơ lỏng chỏng.
                                    (Khuyết danh, Hỏng thi)

Búi tóc chặt, gật chày gật cối, tát cũng đành dù đem giam trói cũng đành
Trơ mặt dày, đeo mẹt đeo mo, rủa càng mát dẫu bắt lột trần cũng mát
                                    (Khuyết danh, Răn cờ bạc)

Vua Tự Đức bắt dân xây thành, đào hào. Nhân dân ta thán, oán trách nhà vua. Có người bỏ trốn. Bị bắt, bị đánh.

Lạy cao lạy thấp
Lạy cối lạy chày 
Chúng chẳng tha ngay
Máu bết đầy roi vọt.
             (Khuyết danh, Cái thời Tự Đức)

Thành ngữ có chày cối xuất hiện từ bao giờ?

Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) có chày, có cối nhưng chưa có thành ngữ nào đả động tới chày cối.

Dictionnaire annamite-français
 của Génibrel (1898) có chày. Có Cứng cổ như chày. Rắn như chày. Có cảchầy (cái chày của người Bắc). Vắt cổ chầy ra nước. Chịu chầy chịu cối. Khất chầy khất cối.

Dictionnaire vietnamien-chinois-français
 của Gustave Hue (1937) cũng có chầy. Khất chầy khất cối. Nhận chầy nhận cối cho xong việc. Sách khó, đọc chầy đọc cối.

Nếu đúng là bài Phú đồ ngông được làm năm 1891 - 1893 thì có thể khẳng định cụ Nguyễn Khuyến là người đầu tiên đưa chày cối vào văn học. Thành ngữ thu chày thu cối đã mở đường dọn lối cho một loạt thành ngữ chày cối của những năm sau.

Tiếng Việt ngày nay có:

- Đầu như cối chày máy: Giễu những kẻ hay bị người ta đánh vào đầu (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam).

Giải thích của Nguyễn Lân hơi bất ngờ.

Đầu như cối chày máy là hình ảnh cái đầu gật gù, cúi xuống ngẩng lên như cái chày giã gạo ngày xưa. Câu nói ám chỉ những kẻ có thói quen gật đầu như cái máy. Một thời được dùng để ám chỉ mấy ông…nghị gật!

- Khất chày khất cối: nói người có nợ không trả được, chỉ hẹn liều hết lần này đến lần khác (Nguyễn Lân).

- Cãi chày cãi cối: chê người cãi liều, không có lí lẽ thích đáng (Nguyễn Lân). Cố cãi, cãi bừa một cách không có lí lẽ gì cả (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê).

- Chịu chày, chịu cối: Chê kẻ có nợ không chịu trả (Nguyễn Lân).

Nhưng, thu chày thu cối của Nguyễn Khuyến nghĩa là gì? Tại sao Nguyễn Khuyến không viết chầy cốimà lại viết chày cối?

Nội dung mấy thành ngữ được nêu ra cho thấy chày cối có hai nghĩa khác nhau.

- Nghĩa thứ nhất là nghĩa đen, mô tả rõ ràng động tác của cái chày máy giã gạo.

Lạy chày (lạy cối) và Đầu như (cối) chày máy mô tả cái đầu cúi xuống ngẩng lên giống cái chày máy.

Còn cối? Cái cối không biết cử động. Không có ai lạy (như) cối, không có đầu nào là đầu (gật gù) như cối. 

Sở dĩ người ta đưa cối vào câu nói là vì câu nói có chày. Tưởng là làm như thế câu nói sẽ du dương hơn. Không ngờ lại ngọng nghịu, khó nghe.

- Nghĩa thứ hai của chày cối là nghĩa bóng, không dính dáng gì với cái chày cái cối.

Thu chày thu cối, viết chày viết cối, chịu chày chịu cối, cãi chày cãi cối, khất chày khất cối… tất cả đều xa lạ với chày cối dùng để đâm giã xay nghiền.

Nghĩa bóng của chày cối là liều lĩnh, không có lí sự. Thí dụ: Làm chày làm cối. Nói chày nói cối. Được cãi chày, thua cãi cối (Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức, 1931).

Nhưng, xét cho kĩ thì thu chày thu cối, chịu chày chịu cối, khất chày khất cối không phải là hành độngliều lĩnh, không có lí sự. Nghĩa bóng của Việt Nam tự điển không đúng cho mấy trường hợp này.

Cần phải đem chày cối, cụ thể là thu chày thu cối của Nguyễn Khuyến ra bàn thêm.

Tiếng Việt có chầy và cố. 

- Chầy là muộn, chậm, lâu, dài.

Lâm Chi đường bộ tháng chầy.

Năm chầy, tháng chẳng bao lâu mà chầy (Kiều).

Không chóng thì chầy đồng nghĩa với Không sớm thì muộn.

- Cố là gắng sức, đưa sức ra nhiều hơn bình thường để làm việc gì cho kì được.

Cố nhớ. Ăn cố. Cố đấm ăn xôi. 

Người Bắc gọi cái chày là chầy. Chầy (cối) đồng âm với chầy (lâu, dài).

Từ ngày cái chày (viết bằng chữ quốc ngữ) của Huỳnh Tịnh Của và Génibrel được công nhận thì cáichầy bị xếp vào hàng phương ngữ.

Chầy được viết là chày. Thậm chí chầy (lâu, chậm) cũng viết là chày.

Câu văn của Nguyễn Khuyến (bằng chữ nôm) bị diễn dịch sai sang chữ quốc ngữ.

Thu chầy (thu lâu, thu dai dẳng) bị nhầm thành thu chày (thu như… cái chày!).

 chày thì phải có cối. Có thu chày thì chỉ cần lôi cổ thu cố (cố thu cho bằng được) ra sửa sai… thànhthu cối (thu như… cái cối!).

Rốt cuộc, thu chầy thu cố (nghĩa là thu lâu, cố thu) bị hiểu sai, bị chữa bậy thành thu chày thu cối (nghĩa là… không có nghĩa).

Oan cho cụ Nguyễn Khuyến. Văn nôm của cụ bị đám học trò học trẹt sửa sai thành sai bét.

Tất cả chày, cối của các thành ngữ khác như viết chày viết cối (cố viết cho nhiều), khất chày khất cối(cố khất lần cho qua), đọc chầy đọc cối (đọc chậm, cố gắng đọc)… đều là biến dạng của chầy, cố.

Chày cối vốn là đồ dùng hàng ngày quen thuộc của người Việt Nam. Chày cối sánh đôi. Giản dị, trong sáng. Không lôi thôi như sách vở, văn chương.

Từ ngày Pháp xâm chiếm nước ta, ta có thêm hai cái cối ấn tượng. Cái súng cối và cái mũ cối của thực dân. Súng cối là súng mortier gây nhiều tội ác (mortier cũng có nghĩa là cái cối). Mũ cối hay mũ cát(casque) bị ta đồng hóa dễ dàng.

Thế kỉ 21…

Nhà nhà dùng máy xay điện. Xay cà phê, xay thịt, xay trái cây… Dao quay tít mù. Nháy mắt là xong.Chày cối có nguy cơ bị xóa sổ.

- Còn lâu mới hết hứa chày hứa cối, tán chày tán cối.

Lyon, 8/2014 
N.D
(SDB14/09-14)

-----------------
(1) Văn Tân, Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội, 1976.
(2) Thơ văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, 1971, tr. 13.
(3) Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, Mặc Lâm tái bản, 1968, tr. 185.
(4) Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Phú Việt Nam cổ và kim, Văn Hóa, 1960, tr. 350.  


(Nguồn: tapchisonghuong.com.vn)