Thứ Sáu, ngày 25 tháng 7 năm 2014

CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN (1625-1644)




Ngày 26-7, chúng ta nhớ đến ngày Thầy giảng Anrê Phú Yên về cùng Chúa. Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) kể rằng : “Chiều ngày 26-7-1644 Anrê Phú Yên được dẫn đến pháp trường. Tới nơi toàn thắng, thầy quỳ xuống cầu nguyện để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác chung quanh. Họ không cho tôi ở bên trong vòng lính, nhưng viên đội trưởng cho phép tôi vào, và đứng cạnh thầy. Thầy vẫn quỳ dưới đất, mắt nhìn lên trời, miệng luôn hé mở và đọc tên Chúa Giêsu.”

CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN

(1625-1644)

I. THÂN THẾ

         1. Tên gọi và năm sinh

Tên gọi dân sự của thầy cho đến nay vẫn chưa tìm thấy bút tích nào để lại. Được nhận tên Thánh Anrê khi chịu phép rửa tội. Tên thánh rửa tội Anrê cùng với quê quán là tên gọi của Anrê Phú Yên. Tên gọi Anrê Phú Yên là tên chính thức được Tòa Thánh công nhận.

Căn cứ vào năm thầy tử đạo, năm 1644, Cha Đắc Lộ xác nhận lúc ấy thầy 19 tuổi, chúng ta biết được thầy đã chào đời năm 1625.

          2. Nơi lãnh nhận Bí tích Rửa tội  

          Theo lời cha Đắc Lộ xác nhận: “
Đúng 03 năm trước khi chết, mẹ thầy dẫn thầy đến cho tôi, và tôi được hạnh phúc rửa tội cho thầy [1]. Như vậy Anrê Phú Yên được rửa tội năm 1641.

Nơi thầy được rửa tội ở đâu ?
Cũng theo tài liệu của cha Đắc Lộ, Anrê Phú Yên là một trong 90 người được cha Đắc Lộ rửa tội trong dịp tĩnh tâm bốn ngày liền tại nhà nguyện của bà Mađalêna Ngọc Liên trong Dinh Trấn Biên Phú Yên.

Dinh Trấn Biên Phú Yên được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên thành lập năm 1629 và giao cho con rễ là phó tướng Nguyễn Phúc Vinh trấn giữ. Vợ Nguyễn Phúc Vinh là Ngọc Liên, trưởng nữ của chúa Sãi. Bà được rửa tội năm 1636. Bà lập nhà nguyện tại Dinh Trấn Biên. Đây là nhà nguyện đầu tiên trên đất Phú Yên.

          Xác định vị trí Dinh Trấn biên:

Trong “
Bản đồ Vương Quốc Annam” của cha Đắc Lộ, in năm 1651, có vẽ tỉnh “Province de Ranran”. Bắc giáp Quinhin ( Qui Nhơn ), Nam giáp Chiêm thành. Đó chính là tỉnh Phú Yên ngày nay. Trên bản đồ nầy, Phú Yên có ba con sông. Theo các nhà sử học, con sông nhỏ ở phía Bắc là sông Cầu; con sông lớn hơn ở giữa là sông Cái; con sông lớn nhất ở phía Nam là sông Đà Rằng. Thủ phủ của tỉnh được ghi là “Dinh Phoan” tọa lạc bên phía Bắc con sông ở giữa, tức sông Cái, ở chỗ gần cửa biển. Đây chính là Dinh Trấn biên được chúa Sãi lập năm 1629. Do những tác động của thiên nhiên, ngày nay toàn bộ Dinh Trấn Biên nằm dưới nước dòng sông Cái.

Dinh Trấn Biên ngày nay được gọi là Thành Cũ, thuộc thôn Bình Thạnh, xã An Ninh Tây, huyện Tuy An. Tên gọi nầy xuất hiện như để phân biệt với Thành An Thổ được vua Minh Mạng (1820-1840) thành lập vào thế kỷ 19. Thành An Thổ ngày nay thuộc thôn An Thổ, xã An Dân, huyện Tuy An. Về năm thành lập thành An Thổ thì các sử liệu ghi chép khác nhau. Cuốn
 Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Siêu thì ghi là năm 1832; cuốn Đại Nam thực lục chính biên thì ghi là năm 1836; cuốn Đại Nam nhất thống chí thì ghi là năm 1838.

            3. Nơi sinh 

Thời điểm thầy Anrê Phú Yên chào đời là thời điểm Phú Yên đang còn trong giai đoạn bắt đầu khai phá, khẩn hoang. Lực lượng khẩn hoang nầy là những đoàn di dân từ Thuận Quảng, phía Bắc Phú Yên, như Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Ông cha của thầy Anrê Phú Yên thuộc những người di dân nầy.

Lúc bấy giờ Phú Yên là vùng đất mới được chúa Nguyễn ổn định an ninh chính trị. Tuy nhiên việc khai khẩn đất hoang, lập làng vẫn còn nhiều yếu tố trở ngại, như về an ninh trật tự ở biên giới phía Nam với Chiêm Thành, khí hậu khắc nghiệt, nước độc, chướng khí từ rừng hoang cỏ rậm và ác thú ở miền núi. Do đó chỉ còn vùng đồng bằng ven biển, đặc biệt vùng châu thổ sông Cái, khí hậu hiền hòa, dễ bắt con cua con cá, trồng được lúa nước, cách xa biên giới phía Nam, là vùng “đất vàng” được các di dân ưu tiên chọn lựa định cư. Dinh Trấn Biên cũng được thành lập tại vùng châu thổ nầy. Xét những điều kiện nầy, có thể gia đình của Anrê đã chọn vùng châu thổ sông Cái để định cư. Toàn bộ vùng châu thổ nầy, ngày nay thuộc giáo xứ Mằng Lăng.

Đầu năm 1639, toàn bộ các thừa sai Dòng Tên ở Đàng Trong đã bị chúa Nguyễn trục xuất. Lúc bấy giờ Cha Đắc Lộ đang ở Ma Cao. Cha tận dụng ảnh hưởng của các thương nhân người Bồ đối với chúa Nguyễn để cha được ra vào Đàng Trong tất cả bốn lần. Lần thứ nhất (02/1640 - 8/1640), lần thứ hai (12/1640 - 7/1641), lần thứ ba (01/1642 – 9/1643), lần thứ tư (01/1644 – 03/7/1645). Trong chuyến trở lại Đàng Trong lần thứ hai, cha Đắc Lộ đã tận dụng cơ hội để thăm viếng tín hữu Phú Yên. Nhân dịp nầy cha rửa tội cho Anrê Phú Yên tại nhà nguyện của bà Mađalêna Ngọc Liên trong Dinh Trấn Biên Phú Yên.

Xét hoàn cảnh sự hiện diện của cha Đắc Lộ tại Dinh Trấn Biên lúc nầy, có thể cha chỉ thăm viếng các tín hữu và qui tụ các tân tòng trong phạm vi những làng lân cận Dinh Trấn Biên. Học giả Phạm Đình Khiêm đã viết: “ Xét vì cuộc viếng thăm của giáo sĩ chỉ thâu hẹp trong các làng phụ cận dinh Trấn Biên, mà phương tiện truyền tin và giao thông thời ấy lại rất hạn chế, người ta có lý do để tin rằng những giáo hữu tân tòng kia không phải từ ở nơi xa đến, mà chính là những người ở ngay chỗ trấn lỵ và phụ cận”.[2]

Từ nhận định nầy, Học giả Phạm Đình Khiêm đi đến một nhận định khác: “Như vậy sinh quán của anh hùng Anrê Phú Yên, không đâu khác ngoài các làng Hội Phú và lân cận là Long Uyên, Diêm Điền, Hội Tín, Phú Thọ, Minh Chính… Tại Long Uyên ngày nay có một ngôi nhà thờ nhỏ lợp lá, với một họ đạo non vài trăm nhân danh, gọi là họ “Lò giấy”. Theo lời truyền tụng, đó là họ đạo xưa nhất trong cả miền, đã cống hiến cho Giáo hội mấy chục người tử đạo đời Văn thân. Phải chăng đó chính là làng quê của thầy giảng Anrê ? ”.[3]

Học giả Phạm Đình Khiêm đã đặt vấn đề “Phải chăng (
Lò Giấy) đó chính là làng quê của thầy giảng Anrê ? ”. Và vì chỉ là nghi vấn không thể chứng minh được nên ngay sau đó ông khẳng định: “Dầu sao thì tất cả miền này đều thuộc địa sở (họ chính) Mằng Lăng, một địa sở tôn giáo rất quan trọng, gồm 12 họ nhánh, 3.000 giáo hữu, với ngôi nhà thờ nguy nga đẹp đẽ nhất tỉnh. Vậy nếu không định rõ được đích xác làng, thôn nào đã sản xuất vị anh hùng, ít nhất ta cũng được biết chắc chắn Mằng Lăng là “xứ đạo quê hương” (paroisse natale) của người, và đó là một nhận định quan trọng, vì “xứ đạo” (địa sở tôn giáo) là đơn vị căn bản của địa dư Giáo hội”.

Thật ra, Lò Giấy là một giáo họ được thành lập sau năm 1747 và trước năm 1850. Trong thống kê của các thừa sai năm 1747, Phú Yên có 06 nhà thờ và  67 nhà nguyện của các giáo họ liên hệ, trong đó Chợ Mới là nhà thờ chính trong vùng, là trú sở của các thừa sai
 [4]. Chợ Mới hiện nay là một giáo họ của giáo xứ Mằng Lăng. Trong số 06 nhà thờ và 67 nhà nguyện của thống kê năm 1747 chưa thấy có tên giáo họ Lò Giấy, và ngay cả Mằng Lăng cũng chưa có.
 
Trong thống kê năm 1850 của Thánh Giám mục Cuênot Thể, Phú Yên được chia làm hai xứ, xứ phía Bắc và xứ phía Nam. Trong đó, Lò Giấy và Mằng Lăng thuộc xứ phía Bắc.
 [5] 

Với các chứng cứ trên đây cho thấy việc xác định Lò Giấy là nơi sinh của Anrê Phú Yên là một khẳng định chưa đủ chứng cứ lịch sử. Nói cách khác, không thể xác định Lò Giấy là nơi sinh của Anrê Phú Yên. Do đó, quan điểm của Học giả Phạm Đình Khiêm dễ được chấp nhận: “nếu không định rõ được đích xác làng, thôn nào đã sản xuất vị anh hùng, ít nhất ta cũng được biết chắc chắn Mằng Lăng là “xứ đạo quê hương” (paroisse natale) của người, và đó là một nhận định quan trọng, vì “xứ đạo” (địa sở tôn giáo) là đơn vị căn bản của địa dư Giáo hội”.

             4. Nơi tử đạo :

Chân phước Anrê Phú Yên tử đạo tại Gò Xử, Thành Chiêm, Điện Bàn, Quảng Nam. Nay thuộc giáo họ Phước Kiều, giáo xứ Hội An, giáo phận Đà nẵng.

             5. Tuyên phong Chân phước :

Thầy giảng Anrê Phú Yên được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong Chân phước vào ngày 05 tháng 3 năm 2000.

Sau đó, để bày tỏ tâm tình tạ ơn Chúa cách long trọng và để tôn vinh Chân phước Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi của Hội Thánh Việt Nam, giáo phận Qui Nhơn đã tổ chức ngày hội trại đầu tiên của giảng viên giáo lý giáo phận Qui Nhơn từ ngày 25 đến ngày 26/7/2000 tại giáo xứ Mằng Lăng, quê hương của Chân phước Anrê Phú Yên. Đỉnh điểm của tâm tình tạ ơn là Thánh lễ đồng tế do Đức Cha Phêrô Nguyễn Soạn chủ sự.

Tại Đại Hội Giới Trẻ thế giới lần thứ 17 ở Toronto, Canada, (23-28/7/2002), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nêu Chân Phước Anrê Phú Yên ở vị trí thứ hai trong số 10 vị thánh trẻ tiêu biểu làm mẫu gương cho cuộc sống.

Tại Hội Nghị thường niên ở Bãi Dâu từ ngày 25 đến ngày 27/3/2008, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chính thức chấp thuận chọn ngày làm chứng của Chân Phước Anrê Phú Yên, 26/7, làm Ngày Giảng Viên Giáo Lý Việt Nam.

         
 II. SỰ NGHIỆP

Nói đến Anrê Phú yên, là nói đến một người trẻ 19 xuân xanh, can trường sống chết vì Chúa Giêsu.
Nói đến Anrê Phú Yên, là nói đến một mẫu gương về các kĩ năng sống cho giới trẻ.
Nói đến Anrê Phú Yên là nói đến một mẫu gương phục vụ dân Chúa của các giảng viên giáo lý.
Như thế, nói đến Anrê Phú Yên là nói đến một cuộc đời đã hoàn thành. Chúng ta rút được bài học nào trong con người đã hoàn thành cuộc đời mới có 19 xuân xanh đó không ?
Cuộc đời hoàn thành đã được sách Khải huyền diễn tả“ CHIỀU DÀI, CHIỀU RỘNG  VÀ CHIỀU CAO ĐỀU BẰNG NHAU ”
(Kh 21,16).

           1. CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN VỚI CHIỀU DÀI CUỘC ĐỜI :

Mỗi người có thời gian sống ngắn, dài khác nhau. Mỗi người  có những khả năng làm việc khác nhau. Theo chỉ dẫn của dụ ngôn những nén bạc trong Tin mừng ( Mt 25, 14-30 ), mỗi người có trách nhiệm khám phá sứ mạng, khả năng của mình trong suốt chiều dài cuộc sống. Phải làm hết sức mình để thực hiện sứ mạng và những khả năng của mình. Phải hành động như thể Thiên Chúa đã giao cho mình chính công việc nầy, vào lúc nầy. Chiều dài cuộc đời là chuỗi dài các nỗ lực của mỗi người để đạt được hạnh phúc trong suốt chiều dài cuộc đời của mình.

Năm 1642, Anrê Phú Yên khăn gói lên đường với cha Đắc Lộ về Hội An. Tại trường “thầy giảng Hội An” do cha Đắc Lộ thành lập, Anrê được nhập đoàn với 09 người anh ưu tú trong cộng đoàn thầy giảng, Anrê là người em út.

          Ngoài việc luyện tập nhân đức, học giáo lý bằng quốc ngữ, chữ nôm, chữ hán, các thầy giảng còn được học kinh sử cổ điển. Về môn học nầy đã có sẳn một thầy giáo trong cộng đoàn là thầy Inhaxiô, từng là một cựu quan ở Chính Dinh. Cha Đắc Lộ nói về Anrê: “Tôi giao thầy Anrê cho một trong những thầy giảng khác của tôi là Inhaxiô, là người rất khôn ngoan, thông thái để học văn chương Trung Hoa; Anrê học hành có kết quả đến nỗi Inhaxiô phải nói với tôi rằng: Trong tất cả các môn sinh, không một người nào đọ kịp trí tuệ của Anrê, thầy linh lợi thông minh, học đâu hiểu đó”
 [6].

Nơi trường thầy giảng, Anrê theo đuổi việc tu đức và học vấn nhưng không bỏ qua những việc cần làm để giúp đỡ người khác, như Cha Đắc lộ nhận xét người học trò nhỏ của mình: “
Người thầy không khỏe mạnh gì lắm, thế mà việc khó mấy trong nhà, thầy cũng làm luôn, nhiều khi lại làm quá sức mình; thầy quên mình để giúp kẻ khác”.

           - Làm hết sức mình, làm cách hoàn hảo nhất những gì có thể làm:

Lễ Chúa Giáng Sinh năm 1643, nhóm thầy giảng đang có mặt tại kinh đô mừng lễ Giáng Sinh ngay trong dinh Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê. Không có linh mục, không có Thánh lễ, Thầy Anrê Phú Yên làm hang đá, một điểm qui tụ tín hữu trong vùng lân cận và chính Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê cùng con cháu và gia nhân đến triều bái, thờ lạy Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Cha Đắc Lộ tóm tắt công việc của thầy Anrê trong những tháng ngày làm việc ở vùng truyền giáo này: “
Thầy Anrê đặc biệt chăm chỉ đi theo thầy Inhaxiô trong mọi hoạt động vì lòng bác ái, thầy đến tận kinh đô xứ Đàng Trong, ở đó riêng mình thầy làm việc bằng nhiều người khác”. Thầy giảng đạo cho người ngoại giáo, dạy dỗ kẻ tân tòng…, dọn dẹp nhà thờ rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ trong những ngày lễ lớn, khéo léo đến nỗi làm cho bổn đạo tăng thêm lòng sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính mầu nhiệm của đạo [7].

               2. CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN VỚI CHIỀU RỘNG CUỘC ĐỜI

Chiều rộng cuộc đời là việc mưu cầu hạnh phúc cho người khác.

Cha Đắc Lộ tóm tắt hoa quả về cách đối nhân xử thế của Anrê: “
Anrê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn thầy đã biểu lộ ra ngoài; thầy sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ; thầy có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người, khiến ai ai cũng đều cảm phục”. Sự thông minh và những khả năng của thầy chẳng làm hại chút nào đến đường tu đức của thầy: “Tất cả những lợi điểm đó chẳng làm cho thầy có chút vẻ gì là kiêu ngạo hay tự mãn: Thầy coi mình như kém hết mọi người, và không có gì làm cho thầy bằng lòng hơn là được dịp phục vụ người khác [8].

Quả vậy, Anrê nhỏ con, nhỏ người, ốm yếu, làm những việc nhỏ: Dọn bàn thờ, làm hang đá, chăm sóc bệnh nhân..., nhỏ nhất trong nhóm thầy giảng Đàng Trong, nhỏ tuổi đời, nhỏ tuổi đạo, nhỏ tuổi tu: Sinh năm 1625, rửa tội năm 1641, nhập đoàn thầy giảng năm 1642, khấn trọn năm 1643, tử đạo năm 1644.

Dưới bóng cha Đắc Lộ và một số thầy giảng từng là ông cử, ông quan, thầy Anrê trẻ tuổi, quê mùa, chơn chất không có gì đáng kể. Tuy nhiên, mặt trời chiếu soi ban ngày, vầng trăng soi chiếu ban đêm, sao hôm, sao mai dù leo lét nhưng là một dấu chỉ đường, một ngọn hải đăng trên bầu trời. Có đường quốc lộ, cũng có những con đường làng nhỏ hẹp; có cầu Ngân Sơn với những kỷ thuật cao cho bộ hành Bắc Nam, cũng có cầu Lò Gốm giản đơn hơn cho cư dân và du khách về Mằng Lăng; có giòng sông Cái
 [9] hữu tình nước trong xanh lững lờ, cũng có những dòng suối nhỏ nên thơ. Ai cũng có gì để cho, ai cũng có gì để đóng góp cho anh chị em, cho Hội Thánh. Trọn tâm, trọn ý, trọn tình từ trong công việc nhỏ, đơn điệu, âm thầm,  đó là đạo lý của Tin Mừng: “Khá lắm, hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc nhỏ mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh lên coi việc lớn, hãy vào hưởng niềm vui của chủ anh” (Mt 25, 21).

Ngày 25 tháng 7 năm 1644, ông Nghè Bộ cho lính đến trụ sở Dòng Tên tại Hội An tìm bắt thầy Inhaxiô theo lệnh bà Tống Thị. Hôm ấy Cha Đắc Lộ và thầy Inhaxiô cùng với 04 thầy khác đang đi làm việc tông đồ, thầy Anrê Phú Yên ở nhà săn sóc 04 thầy trong nhóm đang bị bệnh. Toán lính không tìm thấy thầy Inhaxiô, Thầy Anrê bạo dạn nói với toán lính: “
Nếu các ông muốn bắt thầy Inhaxiô thì vô ích vì Inhaxiô không có ở đây. Còn muốn bắt tôi thì rất dễ dàng, tôi là tín hữu, hơn nữa là thầy giảng. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho thầy Inhaxiô để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội thì tôi làm sao vô tội được [10].

Toán lính không bỏ lỡ cơ hội, họ bắt và trói thầy Anrê như chiên hiền lành không chống cự. Sau đó toán lính xúc phạm đến các ảnh thánh, thầy khuyên can họ: “
Nếu các ông quyết định lấy những ảnh thánh ấy, thì cứ để tôi sắp xếp cẩn thận cho, càng dễ mang đi”. Thầy Anrê được cởi trói để làm điều thầy nói, sau đó thầy đưa tay cho lính trói thầy trở lại. Đã làm những điều ấy nhưng lính chưa thỏa mãn, lính lôi một thầy đang đau nằm trên giường, định bắt giải đi. Thầy Anrê dịu ngọt thuyết phục, họ để cho thầy ấy được tự do, còn chính người van xin biện hộ cho anh em thì lên đường khổ nạn.

          Quả vậy, ơn thánh không hủy diệt bản tính tự nhiên nhưng đón nhận, thánh hóa, và trợ giúp để bản tính tự nhiên tiến đến hoàn thiện viên mãn. Với đức nhân, với lòng dũng cảm, với trí khôn ngoan cùng với ơn thánh, thầy Anrê quyết định để cho lính bắt thầy mau chóng như thế; có thể vì thầy đã nghĩ rằng: Thầy là người em út trong nhóm thầy giảng, thầy có mất đi cũng không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt, đến sự sống còn của nhóm. Trong khi nếu thầy Inhaxiô, người anh cả khôn ngoan, bản lĩnh...mất đi thì sẽ ảnh hưởng lớn đến nhóm. Cha Đắc Lộ là sư phụ, là linh hồn của nhóm, nhưng sự hiện của cha có tính cách bấp bênh vì lệnh trục xuất của ông Nghè Bộ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Do đó sự hiện diện của thầy Inhaxiô luôn luôn cần thiết cho anh em, cho công cuộc truyền giáo. Để cho lính bắt thầy như một ‘chiến lợi phẩm’, điều đó có thể làm dịu đi việc truy tìm thầy Inhaxiô, đồng thời là tiếng chuông báo động nguy hiểm cho thầy Inhaxiô, thầy Inhaxiô có thể trốn thoát.

Quả vậy, trong lúc tấn bi kịch xảy ra tại Hội An thì Cha Đắc Lộ và các thầy giảng sắp vào Dinh Trấn thăm hữu nghị ông Nghè Bộ. Vừa lúc ấy, ý Chúa nhiệm mầu sai khiến ông Horace Massa, một thương gia người Ý chạy đến cấp báo cho cha Đắc Lộ biết sự việc xảy ra tại Hội An. Cha Đắc Lộ vội vàng cho các thầy giảng trở về tìm nơi ẩn núp. Còn thầy Anrê đã chọn hy sinh, quên mình làm hướng đi và thầy đã trung thành đến hơi thở cuối cùng với lựa chọn của mình.

             3. CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN VỚI CHIỀU CAO CUỘC ĐỜI

            - Chiều cao cuộc đời là hướng đi lên tới Thiên Chúa.

Được biết Chúa Giêsu, yêu mến Chúa Giêsu và làm chứng cho Chúa Giêsu là hành trình đức tin thánh Tông Đồ Anrê đã đi. Sau 17 thế kỷ, cũng từ miền sông nước, một Anrê khác theo gương vị Bổn mạng của mình,  đã từ bỏ Sõng lưới, từ bỏ ruộng vườn, từ bỏ gia đình...để dành trọn vẹn tình yêu cho Chúa Giêsu. “
Hãy giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời” là châm ngôn sống của Chân phước Anrê Phú Yên.

          Trong sân nhà lao, Anrê Phú Yên đã khẳng định lòng tín thác đó khi nói với đám đông lương giáo vây quanh mình : “
Các anh em thấy rõ tôi đây đã bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải vì ăn cướp, giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa tể trời đất và Con Một Người xuống thế chuộc tội cho ta. Mọi sự ta có đều do Người. Thế mà người ta lại muốn tôi phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ hình phạt nào người ta có thể bắt tôi chịu, tôi chỉ sợ lửa hoả ngục đời đời. Hỡi anh em, anh em hãy coi chừng, đừng từ chối ơn Đức Chúa Trời đã ban cho anh em ” (Sđd. Tr.148).

Cha Đắc Lộ kể lại những giây phút cuối cùng của Chân phước Anrê Phú Yên đã hoàn thành cuộc đời vào chiều hôm 26/07/1644: :“
 Tôi mê hồn nhìn thấy người thanh niên chân phước kia, lúc ấy quỳ gối, và đã bị đâm ba lần ở sau lưng, chẳng những không ngã quỵ, mà lại không hề lay chuyển; Thầy được vững mạnh như vậy trong ơn thánh sủng nâng đỡ Thầy; Thầy vẫn luôn luôn không chuyển động, và tôi thấy diện mạo của Thầy không mất chút nào về vẻ bình thản  cũng như về màu sắc… Người thanh niên thánh thiện nầy vẫn không ngớt đọc Thánh Danh Chúa Giêsu; ngay khi đầu của thầy đã rời khỏi cuống họng, và nằm ngả trên vai bên phải, tôi nghe thấy rỏ ràng tên cực trọng Giêsu phát ra từ vết thương nơi cổ, cùng một giọng giống hệt như từ cửa miệng phát ra lúc trước; tôi nghe thấy thế rất rõ ràng và tất cả những người gần tôi lúc ấy đều nói như vậy, vừa vui mừng, lại vừa kinh ngạc. Thánh Danh Giêsu không thể phát ra từ miệng thầy nữa, thì lại phát ra từ trái tim thầy, ngay đang lúc thôi đập, để tỏ rằng trái tim nầy dầu có chết, cũng còn giữ mãi Thánh Danh kia, và khi không thể dùng miệng lưỡi mà ca ngợi Danh Thánh Giêsu được, thì thầy dùng chính vết thương mình mà ca ngợi Danh Chúa...” (Sđd, tr. 156).

Cùng với Thánh Phaolô, Chân Phước Anrê Phú Yên đã tiếp tục minh định : “
 Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (phil. 3,8).

         
 III. MẢNH ĐẤT TỐT CHO HẠT GIỐNG NẨY MẦM 

           1. Nơi Chân phước Anrê Phú Yên: sự tự do của con người được kết hợp hài hòa với ân sủng.

Chúng ta thử nghĩ xem, vào lúc hạt giống Tin mừng mới vừa được gieo trên quê hương chúng ta, làm sao một chàng thanh niên mới 15 tuổi đã dứt khoát chọn lựa theo Chúa và dám đem cái chết của mình ra để minh chứng lòng tín trung  của mình ? chết vào lúc 19 tuổi, chết quá trẻ, sống đức tin hơn 3 năm. Quả vậy, không có ơn Chúa chúng ta không làm được việc gì. Do đó phải nói được rằng nơi Chân phước Anrê Phú Yên là chuỗi dài sự tự do của con người được kết hợp hài hòa với ân sủng. Chân phước Anrê Phú Yên đã tự do quyết định hướng đi cho đời mình và dù ơn Chúa là một kho tàng bất tận luôn có đó, nhưng Anrê Phú Yên phải ra sức mò mẫm hy sinh trong cố gắng của cả một đời người để hoàn thành cuộc đời, mặc dù ngắn ngủi.

             2. Môi trường sinh thái của nhân bản và đạo đức

Anrê Phú Yên đã quảng đại hy sinh cuộc đời mình và tự nguyện lãnh lấy trách nhiệm trong cuộc sống. Việc này có được không phải là một sớm một chiều. Nó có bề dày nền tảng của nó. Đó là nhờ có một bà mẹ đạo đức, một người thầy uyên thâm và một mẫu gương tông đồ giáo dân sáng ngời.

                  2.1. Bà Gioanna

Bà Gioanna, mẹ của Anrê, góa chồng sớm, nhưng đã dạy con chu đáo. Chính bà đã đến xin cha Đắc lộ cho con mình làm đệ tử của cha. Yếu tố người mẹ trong việc giáo dục nhân cách và đức tin rất quan trọng. Chúa sáng tạo và quan phòng đã phú ban cho người nữ tấm lòng của người mẹ, lòng mẹ thì bao như biển Thái Bình, lòng mẹ hy sinh, lòng mẹ yêu thương. Cha Philipphê Bỉnh viết : “
Bà rất chăm sóc việc giáo dục cho Anrê về đường đức hạnh và đường học vấn”. (truyện Đàng Trão, trang 46).

                 2.2. Cha Đắc Lộ

Cha Đắc Lộ, vị truyền giáo tài tình đã nhờ ơn Chúa soi sáng và kết hợp với sáng kiến cá nhân của ngài mà Nhà Đức Chúa Trời đã được lập nên, phỏng theo
 đời sống đại gia đình Việt Nam, ngài lấy tinh thần gia đình để huấn luyện các học trò của mình. Các thầy giảng đã được huấn luyện nhuần nhuyễn từ nền lễ giáo Đông Phương về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, và sau đó trong cái gốc đầy sức sống ấy, cha Đắc Lộ đã cấy ghép Đức tin Kitô giáo vào. Nhờ vậy đạo Công giáo mà cha và các thầy rao giảng không xa lạ đối với đồng bào chúng ta. Tất cả chúng ta từ nhiều địa phương, từ nhiều dòng họ khác nhau được mời gọi sống chung thành đại gia đình con cái Chúa. Tình Gia đình đó là một tình cảm sâu nặng mà mỗi người chúng ta phải  phát huy trong đại gia đình chúng ta đang sống, cộng đoàn dân Chúa.
Năm 1642 Cha Đắc Lộ có dịp đến Phú Yên lần thứ hai, Anrê Phú Yên ngỏ lời với cha Đắc Lộ, xin theo Cha giúp việc truyền giáo. Lúc đầu cha Đắc Lộ từ chối vì Anrê còn trẻ, hơn nữa trong thời buổi cấm đạo việc di chuyển của đoàn truyền giáo có đông người là điều nên tránh. Tuy nhiên sự kiên trì nài nỉ của Anrê và của người mẹ đạo đức, đến không để van xin cho con út quý yêu của mình được ‘ngồi bên tả hay bên hữu’ mà đến để van xin được đồng hành yêu mến và làm chứng cho Chúa Giêsu. Thiện chí đó đã khiến Cha Đắc Lộ gạt sang một bên cái lôgíc rất hợp tình hợp lý, rất khôn ngoan, rất người kia, để nhường chỗ cho cái lôgíc tình yêu quan phòng của Thiên Chúa chiếm hữu và hướng dẫn. Hoan hô Cha Đắc Lộ ! Bài giáo lý bao đồng Cha truyền lại cho Anrê Phú Yên không phải là những lời nói suông mà là một thái độ sống ấn tượng. Anrê đã nhập tâm bài giáo lý bao đồng ấy :
 Tín thác hoàn toàn vào tình yêu quan phòng của Cha trên trời. Lòng tín thác ấy đã được tỏ lộ mạnh mẽ trong cuộc đời, nhất là lúc đối diện với đau khổ và cái chết.

                2.3.
 BÀ NGỌC LIÊN CÔNG CHÚA

Đặc tính của người nữ là yêu thương phục vụ, có rất nhiều ơn gọi phục vụ không kèn không trống đang diễn ra từng ngày, trong gia đình, trong giáo xứ, trong các môi trường hoạt động thiện ích xã hội. Việc  những người nữ tham gia vào việc hoạt động truyền giáo đã đem lại nhiều hiệu quả. Trường hợp bà Maria Ngọc Liên là một điển hình. Dựa vào lòng bao dung sẳn có nơi người nữ, lại nữa như một folklore của dân tộc, các vị thừa sai khơi sáng lòng bao dung hướng tới những người nghèo, những người bị bỏ rơi. Cha Đắc Lộ ghi nhận : “
Một bà nhân đức tên là Maria Madalena, vợ quan trấn thủ, đã làm nhiều việc thiện trong tỉnh Phú Yên, bà còn là một người sáng lập một bệnh viện để chăm sóc tất cả giáo dân và người tân tòng bị chứng bất trị. Trong đám bệnh nhân có mấy người cùi sẵn sàng chịu phép rửa tội, để được trong sạch trong linh hồn. Mỗi ngày người ta giảng dạy những điều cần thiết để chuẩn bị phép bí tích ban ơn thánh, có mấy người bổn đạo cũ đến giúp và dự vào việc huấn giáo”. [11]

Bà Ngọc Liên chẳng những đã bảo trợ cho các bệnh nhân mà còn là người bảo trợ cho các dự tòng và tân tòng. Có bà bảo trợ, các dự tòng và tân tòng mới có thể ra vào được nhà nguyện trong dinh Trấn Biên. Gương sống đạo, lòng rộng lượng, sự thơm thảo, thởi lởi của bà bảo trợ chắc hẳn đã để lại trong lòng Anrê Phú Yên một ấn tượng sâu sắc. Chính ấn tượng nầy đã ảnh hưởng đến những chọn lựa và quyết định định hướng cuộc đời của Anrê.

Gương sống đạo của cha Đắc Lộ, của bà Gioanna, của bà Maria Madalêna Ngọc Liên và Chân phước Anrê Phú Yên là một lời nhắn nhủ chúng ta: Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có bổn phận rao giảng Tin Mừng, nhưng lời giảng hùng hồn nhất là chính cuộc sống chúng ta.

 


[1]. Phạm Đình Khiêm, Người Chứng Thứ Nhất , Tinh Việt Văn Đoàn, Sài Gòn 1959, tr. 56
[2] Sđd, trang 40.
[3] Sđd, trang 42.
[4] Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, T.II, Paris 2000, p. 191-192.
[5] Mission de Quinhon,  Mémorial, no. 58, 31 Oct. 1909, p. 152.
[6] sđd tr.79
[7] sđd tr.92
[8] sđd tr.80
[9] Còn gọi là sông Kỳ Lộ. Sông chảy qua cầu Ngân Sơn, một nhánh qua cầu Lò Gốm  ra đầm Ô Loan, và một nhánh đến đập Tam Giang rồi ra biển Tiên Châu.
[10] Sđd tr.125
[11] Hành trình truyền giáo, A. de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, trang 105 -106, tủ sách đại kết, 1994

Tác giả bài viết: Lm. Gioan Võ Đình Đệ
Nguồn tin: Gpquinhon.org


Thứ Năm, ngày 17 tháng 7 năm 2014

Những hình ảnh thân thương của cố Lm Giuse Nguyễn Thanh Liên, Lm Giáo phận Kontum



Những hình ảnh thân thương của
cố Lm Giuse Nguyễn Thanh Liên, Lm Giáo phận Kontum 

Theo Thông Báo của Văn Phòng TGM Kontum, Giáo phận Kontum tổ chức Lễ Giỗ 3 năm của Cha cố Giuse Nguyễn Thanh Liên, nguyên Tổng Đại Diện Gp Kontum và Rước Hài Cốt Cha Cố Phaolô Lê Quang Trinh từ Nha Trang về Giáo Phận Kontum.

CHƯƠNG TRÌNH NHƯ SAU:
* Thứ Tư, ngày 23.7.2014: 
Đi Nha Trang. Đoàn của Giáo Phận gồm có: Cha TĐD Phêrô Nguyễn Vân Đông cùng 1 số linh mục, cựu chủng sinh quen biết và học trò của Cha Cố Phaolô.
* Thứ Năm, ngày 24.7.2014:
- 04giờ45: Tại Nhà Thờ Thanh Hải, Nha Trang: Thánh Lễ cầu nguyện cho Cha Cố Phaolô và giỗ 3 năm Cha TĐD Giuse, với sự hiện diện của các CVK sống tại Nha Trang.
- 16giờ30: Thánh lễ đồng tế tại Nhà Nguyện Chủng Viện Thừa Sai Kontum (146 Trần Hưng Đạo, Kontum): Giỗ 3 năm Cha TĐD Giuse, cầu nguyện cho Cha Cố Phaolô.

  Sau Thánh Lễ có nghi thức đặt hài cốt Cha Cố Phaolô Lê Quang Trinh vào nơi an nghỉ cùng với các Giám Mục và linh mục Tiền Bối.(Theo http://gpkontum.wordpress.com/).

Kontumquehuongtoi xin ghi lại vài nét Tiểu sử và cuộc đời của Cha cố Giuse Nguyễn Thanh Liên, cũng như một số hình ảnh thân thương của Ngài lúc còn trẻ, khi đang làm việc cũng như lúc mang trọng bệnh. Xin mời bấm Play:


Hình ảnh: từ Facebook Huong Nguyen
Thực hiện Slide: LMS

Cha Giuse Nguyễn Thanh Liên và Đức Cha Alexis Phạm Văn Lộc
dịp lễ Bạc 25 năm Linh mục 1996


Cha cố Giuse Nguyễn Thanh Liên

Cha cố Giuse Nguyễn Thanh Liên
(Sinh: 1943 - Lm: 1971 - Qđ: 24/07/2011)

Cha Giuse Nguyễn Thanh Liên sinh ngày 11.02.1943, tại Quế Võ,thuộc Gx. Xuân Hòa, Gp. Bắc Ninh. 
-1955-1958: Học Tiểu CV Thừa Sai Kontum.
-1959-1963: Học Tiểu CV Pi-ô XII, Hà Nội.
-1963-1967: Học Phân Khoa Triết học Kinh viện tại Giáo Hoàng Học Viện Pi-ô X, Đà Lạt.
-1967-1968: Đi thực tế tại trường Hưng Đức, Ban Mê Thuột.
-1968-1972: Học Phân khoa Thần học tại Giáo Hoàng Học Viện Pi-ô X, Đà Lạt
-18/12/1971 : Thụ phong linh mục, tại An Bình, Bàu Cá, Thống Nhất, Đồng Nai.
-1972-1975: Dạy học tại Chủng Viện Kontum, Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt.
-1975-1978: Phụ trách trường Cuénot, Kontum.
-1978-15/04/2004: Chánh xứ Chính Tòa, kiêm nhiệm các xứ họ Hà Đông, Hà Tây, Ngọc Hồi, Đăk Tô, Đăk Glei.
-1997-1998: Bồi dưỡng Thần Học tại Institut Catholique, Paris.
-11/11/2003: Được bổ nhiệm làm Tổng Đại diện Giáo phận Kontum.
-01/06/2006: Chánh xứ Đăk Mót, cùng các xứ họ Dân tộc và Kinh thuộc huyện Ngọc Hồi và Đăk Glei, Kontum. 
Sau thời gian bệnh nặng, Cha đã an nghỉ trong Chúa lúc 7 giờ 15, Chúa Nhật 24 tháng 07 năm 2011. Hưởng thọ 68 tuổi, với 40 năm linh mục.
Thánh lễ An táng vào lúc 06 giờ 00, thứ Ba 26.07.2011, tại Nhà thờ Chính Tòa Kontum.
Cha Giuse Nguyễn Thanh Liên được an táng tại Nghĩa Trang giáo xứ Phương Quý, Kontum.
Để hiểu rõ hơn cuộc đời linh mục tận hiến của cha Tổng đại diện Giuse Nguyễn Thanh Liên, xin được ghi lại nguyên văn bài chia sẻ của Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, giám mục giáo phận Kontum, trong thánh lễ giỗ giáp 2 năm của cha Tổng Giuse tại Nhà thờ Chính tòa Kontum, thứ Tư ngày 24/07/2013:
“Anh chị em rất thân mến,
…Qua phần chia sẻ hôm nay, tôi muốn cùng với anh chị em nhìn vào cuộc đời của ngài một tí. Để tưởng nhớ tới ngài, và ta tự hỏi tưởng nhớ tới cha Giuse Nguyễn Thanh Liên cách nào là tốt đẹp nhất, hữu hiệu nhất, cụ thể nhất?
Thường khi nói đến người chết thì tôi vẫn e ngại, e ngại là ở chỗ này: là tất cả đều là hồng ân của Chúa ban. Nhiều khi chúng ta nói đến người qua đi như thể không có Thiên Chúa vậy, chỉ thấy người đó mà thôi. Ngược lại với tôi, khi nói tới cha Giuse Nguyễn Thanh Liên, tôi lại tưởng nhớ tới một người khác: là chính Đức Giêsu.
Tôi cùng học với ngài ở Chủng viện Piô XII ở Chợ Lớn, Sài Gòn. Rồi lên Đại Chủng viện - Giáo Hoàng Học viện, tôi cũng cùng học với ngài. Rồi khi làm linh mục, tôi cũng làm việc với ngài. Và đặc biệt trong 8 năm với tư cách Tổng Đại Diện, tôi hiểu rõ ngài hơn.
Hình ảnh của cha Giuse Nguyễn Thanh Liên – một con người đơn sơ, chân thành. Đó là hình ảnh đầu tiên mà tôi thấy nơi ngài. Đơn sơ, chân thành! Hình như ngài nhìn thấy mọi người như thể là chính hiện thân của Chúa Giêsu vậy. Và vì thế mà trong cách tiếp cận với hết mọi người không trừ một ai, ngài vẫn tiếp cận với lòng chân thành, quí mến. Tôi chưa một lần nghe, ngay cả các cán bộ chê trách ngài. Ngược lại, tôi toàn nghe thấy những anh em đều khen ngài. Bởi ngài sống rất thật với mọi người. Ngài sống một đời sống chân thành với từng người và tất cả. Ngài tôn trọng hết mọi người, từ cách ứng xử đến cách ăn nói, từ cách tiếp cận,  đặc biệt với anh em nghèo, anh em dân tộc. Hình như thỉnh thoảng ngài cũng nổi nóng, nhưng cái nổi nóng của ngài tôi nghĩ là rất bình thường, rất người, rất thật, nó phát xuất từ đáy lòng yêu mến. Bằng chứng ngài không dành gì cho ngài cả. Tất cả của cải của ngài hình như là của chung hết mọi người. Chúng ta hôm nay có điều kiện, phương tiện dễ dãi hơn, rộng rãi hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn. Nhưng những năm đầu thời bao cấp, khó lắm. Có chiếc Honda là nhất rồi! Nhưng ngài không dành cho ngài. Ai sử dụng cũng được, lúc nào cũng được, để rồi ngài hy sinh tất cả cho đại cuộc. Còn ngài, ngài dùng bất cứ phương tiện nào bù vào đó.
Thứ hai, là ngài hết lòng với Giáo Hội, với Giáo Phận. Ngài yêu Giáo Phận, ngài yêu Giáo Hội. Trước hết, trong đời sống của ngài cũng như trong suy nghĩ của ngài, ngài luôn luôn nghĩ làm cách nào để Giáo Hội Chúa được tôn vinh. Tất cả cho công cuộc phục vụ dân thánh của Chúa. Hôm nay chúng ta hình dung ra một con người sẵn sàng hy sinh, quên ăn, quên ngủ để đi khắp mọi nơi. Những chỗ nào nóng bỏng nhất, chỗ nào khó khăn nhất, nhờ tới ngài, ngài không từ nan. Tôi có nhiều kỷ niệm về cách ứng xử của ngài. Tôi nhớ kỹ khi tôi được làm giám mục, ngài đang làm cha sở Chính tòa này. Tôi cũng đắn đo, đáng lẽ ngài tiếp tục ở đây. Nhưng khi tôi gợi ý ngài làm cha sở Dak Mot, tôi thấy ngài không có một phản ứng nào trái lại, ngài không hề thắc mắc, ngài không hề xin để suy nghĩ. Vui vẻ nhận liền. Theo nguyên tắc bình thường làm Tổng Đại Diện thì ở gần Giám mục, ở cạnh Giám mục. Bởi vì Tổng đại diện và Giám mục là một. Nhưng bởi vì tình hình ở miền Bắc Kontum sau ba mươi mấy năm không linh mục, không nhà thờ, không tu sĩ, không phụng vụ. Tôi thấy vai trò của ngài rất cần thiết, bởi vì ngài có cách tiếp cận rất người. Cho nên tôi đã nhờ ngài lên Dak Mot. Và anh chị em hình dung lại, khi nhà nước đã mở cửa cho một chút, tôi nói một chút thôi, một mình ngài ở trên đó, thay cho cả 7, 8, 10 linh mục hôm nay. Với phương tiện rất hạn hẹp, với hệ thống giao thông hãy còn hạn chế, rồi thêm với chức Tổng Đại Diện nữa. Ngài vui vẻ lãnh nhận và đi lên đi xuống liên tục liên tục. Không một lời than trách, không một lời than van. Rất vui vẻ.  Một hình ảnh của cha Tổng Đại Diện Nguyễn Thanh Liên, đối với tôi hình như, hình như và chắc là tôi không lầm, chưa một lần tôi nghe ngài than van và khó khăn, hình như khó khăn với ngài là chuyện nhỏ, thiếu thốn với ngài là chuyện không cần nói tới, ngay cả khi ngài nằm bệnh viện, ngài cũng không hề hé mở than van. Hình ảnh của một linh mục hoàn toàn gắn bó với Địa phận, với Giáo Hội với Giáo phận rất nổi bật nơi cha Giuse Nguyễn Thanh Liên.
Điểm thứ ba tôi có thể nói với anh chị em: ngài rất yêu mến anh chị em dân tộc, cách đặc biệt. Hình như có lần tôi cũng thử, hay đúng hơn ngỏ ý với ngài, ngài có thể đảm nhiệm một xứ người Kinh, thì ngài nói với tôi rằng, cái đó tùy Đức cha nhưng mà con nghĩ rằng con ở với anh em dân tộc thì thích hợp hơn. Ngài yêu mến anh em dân tộc hết lòng. Chính cuộc sống đơn sơ khó nghèo của ngài nói lên rõ cái lòng yêu mến của ngài đối với anh chị em dân tộc. Chắc anh chị em, nhiều anh chị em trong thánh lễ hôm nay đang ngồi đây có kinh nghiệm với ngài, kể cả những lần có thể ngài nổi nóng, tôi giả thiết có thể có những lần ngài la mắng, tôi nghĩ tất cả phát xuất từ lòng yêu mến. Như Chúa Giêsu đã từng có lần, không phải một mà nhiều lần la mắng các tông đồ, và đặc biệt với Phêrô, Chúa Giêsu yêu mến đặc biệt nhưng có lẽ Chúa cũng nặng lời với Phêrô. Có lần Chúa gọi Phêrô là Satan, xéo ra khỏi phía sau, ý tưởng của con không phải ý tưởng của Thiên Chúa! Nếu cha Tổng có lúc nào la mắng một anh chị em dân tộc nào, tôi nghĩ cũng là cái la mắng thánh thiện của Chúa Giêsu, ngài rất yêu thương anh chị em. Và vì thế không quản ngại khó khăn ở đâu, tôi nhờ ngài, ngài vui vẻ, ngài đi gỡ được hết. Anh chị em nhớ tôi chỉ ở Kontum có 8 tháng, năm 1971-1972: 22/08/1971 tôi về Chủng viện, rồi 22/04/1972 thời gian đó tôi đi dạy ở Đà Lạt, rồi sau 2003 tôi về đây, tôi không biết địa bàn trên này, cho nên tất cả nhờ ngài. Ngài vui vẻ, không từ nan một lần nào. Một trong mối bận tâm của ngài ở cuối đời là anh chị em Hàmong. Ngài rất thương. Ngài rất thương. Lòng yêu mến của ngài, để thể hiện lòng yêu mến của ngài đối với anh em dân tộc đặc biệt tôi đã gói ghém ở chiếc quan tài dành cho ngài. Anh chị em biết, khi lễ An táng ngài, thấy anh chị em vất vả di chuyển áo quan của ngài, để nói lên những vất vả ngài dành cho anh chị em dân tộc. Ngài nằm trong áo quan của một thân cây, để nhắc tới ngài nằm giữa anh chị em. Hôm nay chúng ta nhớ tới ngài, tôi nghĩ nhắc lại một chút hình ảnh của một linh mục sống đơn sơ chân thành với hết mọi người; một linh mục gắn bó với Giáo Phận, với Giáo Hội, với Tin Mừng của Chúa; một linh mục đặc biệt yêu mến anh chị em dân tộc, và với lòng nhiệt thành hăng say ra đi loan báo Tin Mừng. Tôi nghĩ cách tưởng nhớ ngài tốt đẹp nhất, ngoài lời cầu nguyện, là năng suy gẫm gương của ngài. Hãy noi gương bắt chước ngài sống đức tin, yêu thương, phục vụ và chia sẻ Tin Mừng của Chúa cho hết mọi người. Noi gương ngài bằng cách chăm chút đặc biệt tới ơn gọi từ trong gia đình của chúng ta, nhất là anh chị em các dân tộc, để có thêm nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ tiếp nối công việc phục vụ của ngài trên cánh đồng truyền giáo mênh mông này. Đó là cách thương nhớ ngài thiết thực nhất, hữu hiệu nhất.  Xin Chúa đón nhận cha Giuse trên Nước Trời, và bầu cử cho chúng ta biết được sống với ngài qua cuộc sống yêu thương phục vụ, đặc biệt có nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ từ các gia đình dân tộc của chúng ta, để tiếp nối công cuộc loan báo Tin Mừng, Tin Mừng mà chúng ta trong Năm Đức Tin này đã thường nhắc nhở với nhau... Đây cũng là dịp để chúng ta nhớ lại mỗi người chúng ta trước mặt Chúa, xem đời sống đức tin của chúng ta như thế nào. Có một cách tích cực hơn không, có biết chia sẻ niềm tin này cho những người chung quanh không... Xin cha Giuse được hưởng tôn nhan Chúa   mỗi người chúng ta sống như ngài đã sống, đã truyền đạt cho mọi người chúng ta, và cách riêng cho anh chị em dân tộc trên miền Tây Nguyên này. Amen.”

MINH SƠN
________________
Tham khảo:
-Cáo phó và Tiểu sử Cố linh mục Giuse Nguyễn Thanh Liên, TGM Kontum.
-Trích video Bài giảng của Đức cha Micae Giám mục Gp Kontum trong thánh lễ Giỗ giáp 2 năm ngày qua đời của Cố linh mục Giuse Nguyễn Thanh Liên, tại nhà thờ Chính tòa Kontum ngày 24/07/2013 (www.giaophankontum.com).


Thánh Lễ An Tang Cha cố Giuse Liên
tại Nhà thờ Chính tòa Kontum lúc 06giờ ngày 26/07/2011

Nơi an nghỉ cuối cùng tại Nghĩa trang Gx Phương Quý, Kontum

Rước Hài Cốt Cha Cố Phaolô Lê Quang Trinh từ Nha Trang về Giáo Phận Kontum




Rước Hài Cốt Cha Cố Phaolô Lê Quang Trinh 
từ Nha Trang về Giáo Phận Kontum

Theo Thông Báo của Văn Phòng TGM Kontum, Giáo phận Kontum sẽ rước Hài Cốt Cha Cố Phaolô Lê Quang Trinh từ Nha Trang về Giáo Phận Kontum.

CHƯƠNG TRÌNH NHƯ SAU:
* Thứ Tư, ngày 23.7.2014: 
Đi Nha Trang. Đoàn của Giáo Phận gồm có: Cha TĐD Phêrô Nguyễn Vân Đông cùng 1 số linh mục, cựu chủng sinh quen biết và học trò của Cha Cố Phaolô.
* Thứ Năm, ngày 24.7.2014:
- 04giờ45: Tại Nhà Thờ Thanh Hải, Nha Trang: Thánh Lễ cầu nguyện cho Cha Cố Phaolô và giỗ 3 năm Cha TĐD Giuse, với sự hiện diện của các CVK sống tại Nha Trang.
- 16giờ30: Thánh lễ đồng tế tại Nhà Nguyện Chủng Viện Thừa Sai Kontum (146 Trần Hưng Đạo, Kontum): Giỗ 3 năm Cha TĐD Giuse, cầu nguyện cho Cha Cố Phaolô.


  Sau Thánh Lễ có nghi thức đặt hài cốt Cha Cố Phaolô Lê Quang Trinh vào nơi an nghỉ cùng với các Giám Mục và linh mục Tiền Bối. (Theo http://gpkontum.wordpress.com/).

Kontumquehuongtoi xin ghi lại vài nét Tiểu sử của Cha cố Phaolô:

Tiểu sử cố Linh mục Phaolô Lê Quang Trinh

Lm PHAOLÔ LÊ QUANG TRINH
(Sinh:1929 - Lm:1957 - Qđ:15/08/1966)

Cha Phaolô Lê Quang Trinh (tên thường gọi là Trí) sinh năm 1929, tại Huế. Ông bà cố là ông Phêrô Lê Văn Thị và bà Anna Nguyễn Thị Uyển.
Năm 1941, từ Nha Trang, cậu Lê Quang Trinh nhập học Tiểu Chủng viện Thừa sai Kontum niên khóa 1941-1942.
Tháng 06/1946, vì lý do chiến tranh, các chú chủng sinh Kontum được cho về nghỉ tại gia đình. Đến ngày 01/09/1947, Chủng viện Thừa sai Kontum khai giảng năm học mới, chú Phaolô Lê Quang Trinh tiếp tục tu học; và đến niên khóa năm 1950, thầy được đặt làm giáo sư và giám thị Tiểu Chủng viện Thừa sai Kontum (1950-1953). Sau đó thầy Trinh được gởi tiếp tục tu học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài gòn.
Mãn Đại Chủng viện, vào năm 1957, thầy Trinh nhận lãnh tác vụ linh mục. Tân linh mục Phaolô Lê Quang Trinh được bổ nhiệm làm giáo sư Tiểu Chủng viện Thừa sai Kontum. 
Đức Cha Phaolô Seitz (Kim), giám mục giáo phận Kontum luôn quan tâm đến việc “trồng người” cho giáo phận. Ngài luôn ưu tư tìm cách để nâng cao trình độ học vấn cho chủng sinh. Vào năm 1966, Đức Cha quyết định chuyển một số chủng sinh lên đào tạo tại Đà Lạt. Ngài đã mua lại Villa Sohier của vị bác sĩ người Pháp (tên Sohier) để mở Chi nhánh Chủng viện TS Kontum tại đây. Đầu năm học mới 1966-1967, Đức Cha cho chuyển 4 lớp từ Troisième (3e) đến Terminale (chương trình Pháp) lên Chi nhánh Đà Lạt và học tại trường La Salle d’Adran Đà Lạt. Đồng thời Đức Cha bổ nhiệm linh mục Phaolô Lê Quang Trinh làm Giám đốc Chi nhánh TCV này. Ngày 03/08/1966 là ngày khai giảng đầu tiên của Chi nhánh TCV Kontum tại Đà lạt.


Chi nhánh TCV Thừa sai Kontum tại Đà Lạt (Villa Sohier)
(Ảnh sưu tầm)






Chủng sinh Tiểu Chủng viện Thừa sai Kontum tại chi nhánh Đà Lạt




Ngày 15/08/1966, trên đường đi Sài Gòn lo công việc cho Chi nhánh TCV (mua sắm dụng cụ sách vở, đồ dùng.v.v.), cha Phaolô Lê Quang Trinh đã bị tai nạn xe hơi tại Biên Hòa, được đưa đi cấp cứu tại Sài Gòn và ngài đã qua đời cùng ngày tại Sài Gòn.
Cha đã được an táng nơi Nghĩa trang dành cho các linh mục tại Chí Hòa, Sài Gòn. Đến năm 1996, thân nhân (gia đình em trai của ngài là ông Phaolô Lê quang Thông) đã cải táng hài cốt ngài về Nha Trang, tại “Nghĩa đường Phục sinh” thuộc giáo xứ Thanh Hải, Giáo phận Nha Trang.


 
Nhà thờ Gx Thanh Hải, Gp Nha Trang

 
"Nghĩa đường Phục sinh", Gx Thanh Hải, Gp Nha Trang
Nơi đặt hài cốt Cha cố Phaolô Lê Quang Trinh
(Ảnh: http://www.giaoxugiaohovietnam.com/)

Cha Phaolô Lê quang Trinh là một linh mục hiền lành, đạo đức, sống đơn sơ, khó nghèo. Ngài nhiệt thành, tận tụy với công việc được giao phó, từ lúc còn làm thầy hay khi đã trở thành linh mục, trong vai trò giáo sư, giám thị Chủng viện, giám đốc Chủng viện... Ngài mất khi tuổi đời mới 37 tuổi, được 9 năm linh mục, để lại sự kính trọng và niềm thương tiếc cho các thế hệ chủng sinh và linh mục có dịp học tập hay làm việc với Ngài.
Sau 48 năm xa cách Giáo phận Kontum (về địa lý) 1966-2014, vào ngày 24/07/2014, hài cốt Cha cố Phaolô Lê Quang Trinh sẽ được đưa về Kontum đặt vào nơi an nghỉ cùng với các Giám mục và Linh mục tiền bối, tại Nhà Nguyện Chủng viện Thừa sai Kontum.
Xin cầu cho linh hồn Cha cố Phaolô được hưởng tôn nhan Chúa.


Minh Sơn





Thứ Bảy, ngày 12 tháng 7 năm 2014

Tây Nguyên những năm 50 của thế kỷ XX qua ống kính của Jean - Marie Duchange




Tây Nguyên những năm 50 của thế kỷ XX qua ống kính của Jean - Marie Duchange

(Theo: http://vietnamnet.vn/ và thethaovanhoa.vn/)

Bộ ảnh tư liệu dân tộc học do một người Pháp chụp ở Tây Nguyên những năm 1952 - 1955 hé lộ cho người xem một chân dung đời sống phong nhiêu và sống động, mà đến nay hầu như đã không còn tồn tại.


34 bức ảnh khổ lớn, hình vuông - mà Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vừa đưa ra triển lãm vào chiều ngày 10/7 thực tế chỉ là một phần của kho ảnh lên tới 200 bức về cuộc sống Tây Nguyên, do một người Pháp tên Jean - Marie Duchange chụp vào những năm 1950 của thế kỷ trước. Bảo tàng cho biết các hình ảnh vẫn còn chất lượng rất tốt do được ông Duchange và gia đình bảo quản rất cẩn thận.

Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Ông Jean - Marie Duchange (phải) trong một bức ảnh chụp tại Tây Nguyên.
Bộ ảnh được ông thực hiện bằng máy Rolleiflex và Samflex, chụp phim âm bản khổ 6 x 6, là các loại máy thuộc hàng tân tiến thời ấy. Được biết, vào lúc sinh thời, ông Jean - Marie Duchange từng bộc bạch ông "không phải là nhà dân tộc học, cũng không phải là nhiếp ảnh gia". Nhưng cảnh đẹp và con người của vùng đất Tây Nguyên đã khiến ông muốn cầm máy lên để ghi lại.
Những bức ảnh được chọn triển lãm trình bày chân dung sống động của các cụ ông, cụ bà, bé trai, bé gái, thanh niên, thiếu nữ... trong trang phục hết sức độc đáo của vùng đất Tây Nguyên vào giữa thế kỷ thứ 20. Bên cạnh đó là các cảnh sinh hoạt thường ngày, từ phương thức vận chuyển đi lại bằng voi đến các lao động như giã gạo, làm rẫy, dệt vải, cán bông...; các hoạt động nghi lễ (tang ma, đâm trâu, cầu mùa...) và đặc biệt là kiến trúc nhà cửa tạo nên bản sắc Tây Nguyên (nhà dài, nhà rông, kho thóc, chòi rẫy, nhà mồ...).
Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Bà Évelyne Duchange (trái) và bà Nadège Bourgoin, con gái và cháu ngoại của tác giả, thay mặt gia đình đến VN để dự lễ khai mạc triển lãm.
"Tây Nguyên những năm 50 của thế kỷ XX" cũng là một triển lãm sáng tạo sống động bằng cách bài trí các bức ảnh trong không gian rộng mở, tạo cảm giác thân thiện và gần gũi cho người xem. Những hình ảnh trưng bày được in tại Pháp, người xem có thể được chiêm ngưỡng từ hai mặt. Riêng toàn bộ kho ảnh mà gia đình hiến tặng cho bảo tàng được dựng thành một video clip chiếu tại triển lãm, tạo điều kiện cho công chúng thưởng ngoạn bộ sưu tập theo một cách khác. Người xem cũng có thể nhìn ngắm phương tiện "tác nghiệp" của tác giả, chiếc máy ảnh Rolleiflex, tại một góc phòng trưng bày.
Hơn 6 thập kỷ đã trôi qua, rất nhiều thứ từng có trên vùng đất cao nguyên miền Trung Việt Nam nay đã không còn. Trong hoài niệm ấy, những bức ảnh đơn sơ bỗng trở nên tuyệt vời và hấp dẫn trong mắt của người xem hôm nay. Dưới đây là những hình ảnh do phóng viên chụp lại từ triển lãm, với mong muốn giới thiệu tới độc giả triển lãm độc đáo này. Dự kiến, triển lãm sẽ kéo dài 6 tháng, trước khi đưa vào giới thiệu tại chính Tây Nguyên, cội nguồn ra đời của chúng.
Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Thiếu nữ người Giarai đeo hoa tai ngà voi, vòng tay xoắn ống và vòng cổ. Cô ở làng Djereng.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Một bà mẹ trẻ ở Tây Nguyên


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Người phụ nữ đang ngồi tách hạt bông.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Đàn ông Chil búi tóc cài trâm và đeo hoa tai ngà voi.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Đàn ông Chil vác dao xà gạc và đeo gùi. Hình chụp ở Lâm Đồng.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Hiến sinh trâu của người Xơ Đăng ở Đắk Tô, Kon Tum.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Một nghi lễ cầu mùa của người Ê Đê.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Làng của người Mnông Gar với những ngôi nhà trệt rất dài.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Tang lễ tại nghĩa địa.


Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Tượng mồ Giarai tạc hình lính Pháp tại buôn Yit, Bắc Tây Nguyên.



Tượng mồ tạc hình chim công củangười Mnông Buđơng

Uống rượu cần ngày lễ

Voi của người Êđê chở hàng qua nơi ngập nước Buôn chuôr, Đắk Lắk

Bến nước của một làng người Ê đê Kpa ở Đăk Lắk


Cô gái Xơđăng với hình xăm bên miệng, ngậm thuốc lá trong môi dưới

Đàn ông dệt chiếu

Dỡ hàng xuống từ lưng voi

Kho thóc của các gia đình Bana dựng ở rìa làng

Nhà mồ kiểu mái cao lợp cỏ tranh của người Gia rai

Nhà mồ người Êđê Mthur ở buôn Ma Diap, Đắk Lắk

Phà qua sông

Phụ nữ dệt vải bằng dụng cụ dệt buộc lưng

Phụ nữ và trẻ em Mnông bên sông Krông Knô


Một nghi lễ trong nhà dài của người Tây Nguyên


Đầu hồi phía cửa chính nhà dài người Ê đê

Đàn ông hút thuốc lá bằng tẩu

 Máy ảnh của Jean-Marie Duchange

Tây Nguyên, dân tộc học, thiếu nữ, nude, nhiếp ảnh
Một góc triển lãm.


Khải Trí