Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Giảng lễ an táng nữ tu Raymonde Trần Thị Kiển


LỄ AN TÁNG BÀ ANNA RAYMONDE TRẦN THỊ KIỂN
 
Kính thưa Cộng đoàn,
  1. Chúng ta đang sống trong Mùa Chay là mùa chuẩn bị để mừng trọng thể Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Cứu thế, tức là mừng Cuộc Khổ nạn, cái chết và sự Phục sinh của Ngài . Đó chính là nguồn ơn cứu chuộc chúng ta mà Chúa Quan phòng dành cho con người hèn mọn chúng ta. Hãy cảm tạ Chúa.
  2. Bài đọc Sách Gióp ghi nhận cho chúng ta lời tuyên xưng của Gióp : “Tôi biết Đấng cứu chuộc tôi hằng sống!” Ông tuyên xưng tấm lòng son sắt xác tín vào tình thương vô biên và sự tốt lành của Thiên Chúa dành cho những kẻ kính sợ Ngài, và không gì có thể lay chuyển niềm tin của ông vào Thiên Chúa đầy lòng xót thương ông! Ông biết ca tụng Chúa cả khi gặp khổ đau và mất mát.
          Đây cũng chính là niềm tin của người chị em chúng con vừa mới qua đời, qua cuộc sống Thánh Hiến của mình trước biết bao cảnh huống xã hội khó khăn và hỗn loạn, những bổn phận và sứ mệnh tông đồ bị thử thách, Chị đã chu toàn trong suốt 84 năm sống trong Nhà Chúa, qua khắp 3 Giáo phận Đà Nẵng, Qui Nhơn và Nha Trang; rồi 17 năm phải sống xa Nhà Dòng để phục vụ gia đình có mẹ, và hai Em bệnh hoạn và tật nguyền, Chị luôn vui lòng chấp nhận như một sứ mệnh của tình thương yêu vừa tự nhiên, vừa siêu nhiên.
3.       Qua bài Thư Thánh Phaolô Tông Đồ (Rm. 8,31b-35.37-39).
Thánh nhân quả quyết: “Nếu Thiên Chúa phù trợ chúng ta, thì ai có thể chống lại chúng ta? ... Và nữa: Ai sẽ tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Có phải là gian truân, buồn sầu, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo chăng? Nhưng trong tất cả những điều ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta.”
          Trong những năm dài bệnh tật, 24 năm cuối cùng ở Nhà Hưu dưỡng! con thấy Chị vẫn luôn bám chặt lấy tình yêu Chúa Giêsu và Con nghĩ rằng Tình Yêu Thiên Chúa trong Chị luôn cháy sáng và hâm nóng Chị với cuộc sống biết hướng trọn về một mình Thiên Chúa chí ái! Chị thường nhắc nhở con những việc mục vụ cho người già cả. Chị rất chăm chỉ về cuộc sống bí tích , đọc sách và viết lách. Chị còn cho con những bài thơ đạo đức và đầy ý nghĩa.  

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Nữ tu Anne Raymonde Trần Thị Kiển - Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn từ trần 24.03.2017

Chúng tôi vừa nhận được tin:


Nữ tu Anne Raymonde TRẤN THỊ KIỂN
Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
đã được về cùng Chúa 
vào lúc 15g15 ngày 24.03.2017,
tại Cộng đoàn Nhà Hưu dưỡng Ghềnh Ráng, Tp. Qui Nhơn.
Hưởng thọ: 99 tuổi.
76 năm khấn dòng.
Nghi thức Nhập Quan: 16 giờ 30, Thứ Sáu ngày 24/3/2017
          Nghi thức Di Quan: 13 giờ 30, Thứ Bảy ngày 25/3/2017
            Thánh lễ An táng:  14 giờ 00, Thứ Bảy ngày 25/3/2017
               do Đức Cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi 
                Giám mục Giáo phận Qui Nhơn chủ tế.
              Tại: Nguyện đường Cộng đoàn Hưu dưỡng Mến Thánh Giá Qui Nhơn,
                  64 Hàn Mặc Tử, Ghềnh Ráng, Qui Nhơn.

                     An táng tại:   Nghĩa trang Bùi Thị Xuân, Qui Nhơn
------------------

Sơ Anne Raymonde TRẤN THỊ KIỂN sinh ngày 10.12.1918, tại làng Tân Hương, thuộc giáo xứ Tân Hương, Gp. Kon Tum (Phường Quyết Thắng, Tp Kon Tum).
Cha là ông Phaolô Trần Qui và mẹ là bà Maria Nguyễn Thị Thanh, là những tín hữu đạo đức. Ông Phaolô Qui là ông biện họ đạo Tân Hương, thường gọi là ông biện Kiển. Sơ Raymonde là chị cả của gia đình có 7 anh chị em, trong số đó có 3 người theo ơn gọi tận hiến: Sơ Raymonde  và 2 người em là Linh mục Gioan Baotixita Trần Khánh Lê, Lm Gp Kon Tum (sinh 1923 - Lm 1949 - Qđ 1985); Nữ tu Julienne Trần Thị Lợi, thuộc Tu hội Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn (sinh 1926-Khấn dòng 1950, hiện đang hưu dưỡng tại Cộng đoàn hưu ở Tp. HCM). 
Thiên Chúa đã tuyển chọn Sơ cách đặc biệt để để thực hiện chương trình yêu thương của Người. Ngay từ lúc còn nhỏ, Sơ Raymonde đã hăng hái từ giã gia đình cha mẹ xin đi tu, gia nhập vào Hội Dòng Mến Thánh Giá Gò Thị, Qui Nhơn. Sau những năm tu học và trải qua tập viện tại Gò Thị, Sơ đã tuyên khấn vào ngày 22.08.1941.
Trãi qua thời gian phục vụ tại nhiều cộng đoàn, nhiều nơi khác nhau một cách liên lỉ, bền bỉ, như ở Quảng Ngãi, Nha Trang (Gx Hộ Diêm 1971-1975), Qui Nhơn, Kon Tum... bằng lòng nhiệt thành, khiêm tốn, đạo đức.
Khi tuổi đã cao, sức khỏe giảm sút, Sơ về hưu dưỡng tại Cộng đoàn hưu của các Sơ MTG tại Ghềnh Ràng, Qui Nhơn.
Như ngọn nến tiêu hao đến giọt cuối cùng, vào lúc 15g15' ngày 24.03.2017, Sơ đã trút hơi cuối cùng, ra đi bình an trong Chúa. Hưởng thọ 99 tuổi. 76 năm khấn dòng.

Xin một lời tiễn biệt Bà Raymonde đáng kính, người con gương mẫu của Gx Tân Hương, Gp Kon Tum.
Nguyện xin Chúa đoái nhận Bà trên Quê Trời nơi quê hương đích thực.

Các Sơ MTG Qui Nhơn thời kỳ đầu (Sơ Kiển: thứ 2 phải sang)

Lớp khấn 22.8.1941


Bài thơ sau đây trích từ cuốn "GHI DẤU HỒNG ÂN 333 NĂM THÀNH LẬP DÒNG MTG ĐÀNG TRONG; 75 NĂM CẢI TỔ HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ QUI NHƠN (1929-2004), tr. 197:

VỀ HƯU

Về hưu đâu phải nghỉ ngơi
Hưu đâu có nghĩa là chơi không làm
Kìa xem cái miệng cái hàm
Dạ dày, tim phổi, chúng làm hay ngơi
Hưu là đổi mới đấy thôi
Thay chương trình cũ, đổi dời lối xưa
Tăng cường lòng mến đơn sơ
Tinh thần phục vụ sớm trưa, đêm ngày
Hồn thơ tươi trẻ hăng say
Cuộc đời dâng hiến lúc này dâng cao
Hồng ân Thiên Chúa tuôn trào
Con lo đền đáp thế nào, Chúa ơi!
Ngày qua sức kém mòn hơi
Gối chồn chân yếu, Chúa ơi dâng Ngài
Hành trình Thập Giá chông gai
Khổ đau Thập Giá là đài vinh quang
Đời con nghin nỗi lo toan
Tình yêu phó thác vuông tròn thủy chung
Tình Cha quảng đại đỡ nâng
Hồn con nhỏ bé, xin dâng tiến Ngài
Tình đời dẫu có phôi phai
Tình Cha con giữ, luôn hoài tín trung
Ngày mai hơi thở cuối cùng
Giữa triều thần thánh chung phần vinh quang
Ba Ngôi một Chúa cao sang
Dâng lời cảm tạ lòng vàng tri ân.

                                             Bà Raymonde
                                                 (Cộng đoàn Nhà Hưu Dưỡng-Ghềnh Ráng-QN)
                                              2004 (lúc 86 tuổi)

Vẫn còn nhớ Bà, vào năm 2006, dịp kỷ niệm 100 năm dựng nhà thờ (1906-2006) và 155 năm thành lập Họ đạo Tân Hương (1851-2006). Tuy tuổi đã cao Bà vẫn cố gắng về thăm, dự lễ, và gởi cho Tập Kỷ Yếu giáo xứ bài thơ "Tiếng lòng người con Tân Hương", gửi gắm trọn tâm tình dâng hiến, phó thác và hăng say phục vụ.

Xin phép được ghi chép lại đây như một kỷ niệm, hơn thế nữa như là lời nhắn nhủ của Bà cho thế hệ tiếp sau: 

Tiếng lòng người con Tân Hương

Đoàn con giáo xứ Tân Hương
Phúc thay Cha gọi lên đường theo Cha
Tình Cha quảng đại bao la
Đoàn con tiến bước theo Cha không lùi
Cuộc đời dâng hiến buồn vui
Cha luôn nâng đỡ vỗ về ủi an
Đoàn con vui sướng hân hoan
Tin Mừng rao giảng lan tràn khắp nơi
Buồm căng lưới thả không ngơi
Gạn từng con cá lội bơi lạc giòng
Thi nhau nối cánh tay vòng
Lao công vất vả đồng lòng xót thương
Thương người lạc bước lầm đường
Chạy theo lạc thú vấn vương tội tình
Phần ta nào nỡ lặng thinh
Chăm lo hạnh phúc riêng mình sao an
Bao người đói rách lầm than
Chạy theo cơm áo không màng phúc vinh
Cha cần con lễ hy sinh
Đắp bù tội lỗi công linh rạng ngời
Maria, Mẹ Chúa Trời
Nếu không có Mẹ con nhờ vào ai
Tình Mẹ thật quá thẳm sâu
Đoàn con dâng Mẹ lời cầu thiết tha
Mẹ thương rộng lượng hải hà
Ban muôn hồng phúc xứ nhà an vui
Sống đời thảo hiếu tin yêu
Thờ Chúa kính Mẹ gặp nhiều ủi an
Mai ngày trên cõi Thiên Đàng
Đoàn con lãnh nhận hào quang chói loà
Ngợi khen Chúa Cả Thiên Toà
Cùng Mẹ hạnh phúc chan hoà mến thương.

                                                              Nữ tu Raymonde Trần Thị Kiển
                                                              Dòng MTG Qui Nhơn 2006 (lúc 88 tuổi)

---------------------

Xin hiệp ý cầu cho linh hồn Sơ Raymonde sớm hưởng 
tôn nhan Đấng Tối Cao.

                                                                   Lê Minh Sơn
                                                                                                    24.03.2017

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

Hướng Dẫn Mục Vụ Hôn Nhân Tại Giáo Xứ





Kết quả hình ảnh cho đỨC CHA Aloisio Nguyễn Hùng Vị

Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận Kontum xin giới thiệu tài liệu HƯỚNG DẪN MỤC VỤ HÔN NHÂN  TẠI GIÁO XỨ để toàn thể gia đình Giáo phận được rõ.
ĐỌC VÀ DOWNLOAD BẢN PDF TẠI LINK DƯỚI ĐÂY:
HƯỚNG DẪN MỤC VỤ HÔN NHÂN  TẠI GIÁO XỨ


------------------------------------------------------------------------------------------

*Click chuột trái vào các ảnh bên dưới để bung to và xem:







Nguồn: giaophankontum.com

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Sinh nhật thứ 426 năm cha đẻ chữ Quốc ngữ: Xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân

17155689_455850321417921_824731054655270838_n

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.
Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.
Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La.
Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.
Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.
Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.
Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.
Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.
Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.
Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.
Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.
Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.
Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.
Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.
Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.
Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm : “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện “gậy ông đập lưng ông” mà thôi. [1]
Riêng đối với công chúng, thì:
– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …
– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …
– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);
Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy !
Và với chế độ :
– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;
– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …
– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;
Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng !
Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!
Thái Hà (13.03.2017) – Kỷ niệm 426 năm ngày sinh Cha Alexander Rhodes, người khai sinh chữ Quốc ngữ (15/3/1591 – 2017).
LS Đặng Đình Mạnh
12-3-2017
Nguồn @Đinh Hữu Thoại

Tác giả bài thánh ca"Giuse trong xóm nhỏ" qua đời


Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Đức giáo hoàng Phanxicô kêu gọi canh tân Thánh nhạc: Thánh nhạc phải hội nhập trong ngôn ngữ âm nhạc đương đại.





Đức giáo hoàng Phanxicô kêu gọi canh tân Thánh nhạc

WHĐ (06.03.2017) – Đối với thánh nhạc, Giáo hội có một nhiệm vụ kép: vừa bảo vệ và phát huy di sản phong phú và đa dạng thừa hưởng từ quá khứ vừa đưa thánh nhạc “hội nhập vào ngôn ngữ nghệ thuật và âm nhạc. Đó là điều được Đức giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh trong buổi tiếp kiến 400 tham dự viên đang tham gia Hội nghị quốc tế về Thánh nhạc tại Roma, hôm thứ Bảy 04-03-2017.
Hội nghị do Hội đồng Toà Thánh về Văn hóa và Bộ Giáo dục Công giáo tổ chức, với sự phối hợp của Học viện Giáo hoàng về Thánh nhạc và Học viện Giáo hoàng về Phụng vụ thuộc trường Anselmô. Với chủ đề “Âm nhạc và Giáo hội: Việc thờ phượng và Văn hoá năm mươi năm sau Huấn thị Musicam Sacram”, Hội nghị muốn đào sâu –trong nhãn giớiliên ngành và đại kết– mối tương quan hiện nay giữa thánh nhạc với văn hóa đương đại, giữa âm nhạc được cộng đồng Kitô giáo chấp nhận và sử dụng với các xu hướng âm nhạc thịnh hành.
Nền thánh nhạc này, Đức giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở, phải nhập thể và diễn dịch Lời Chúa thành lời ca tiếng hát, thành giai điệu làm rung động trái tim của những con người thời đại chúng tavà còn tạo ra cả một bầu khí tâm tình thúc đẩy đức tin và khơi gợi người ta đón nhận và tham dự trọn vẹn vào mầu nhiệm được cử hành.
Bởi vì âm nhạc là con đường ngắn nhất để tham dự trọn vẹn vào hy tế tạ ơnnên những suy tư và dấn thân mục vụ liên quan đến thánh nhạc phải hướng đến sự hiểu biết sâu xa hơn để đi sâu vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chiêm ngắm, thờ lạy và đón nhận mầu nhiệm ấy.
Đức giáo hoàng nhìn nhận rằng sau Công đồng Vatican II, “sự giao thoa với tính hiện đại và việc đưa các ngôn ngữ bản xứ vào Phụng vụ đã tạo ra khá nhiều vấn đề về ngôn ngữ, hình thức và thể loại âm nhạc. Đôi khi, một sự tầm thường, hời hợt và xoàng xĩnh nào đó đã lấn lướtlàm thiệt hại đến vẻ đẹp và sự cao cả của các cử hành phụng vụ.
Đức giáo hoàng khuyến khích những người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc phụng vụ –từ các nhạc sĩ, ca trưởng, nhạc công và ca viên, đến các linh hoạt viên phụng vụ– làm hết sức mình để đóng góp vào việc canh tân thánh nhạc và nhạc phụng vụ, đặc biệt quan tâm đến phẩm chất của thánh nhạc.
“Để thúc đẩy tiến trình này”, Đức giáo hoàng nói, “chúng ta cần huấn luyện một nền giáo dục âm nhạc đúng đắn, nhất là cho các chủng sinh chuẩn bị làm linh mục – trong sự đối thoại với các xu hướng âm nhạc của thời đại chúng ta cũng như với những đòi hỏi của các vùng văn h khác nhau, và với tinh thần đại kết.
(Theo Vatican Radio) 
                                                                                                    
Minh Đức
Nguồn: hdgmvietnam.org
____________________________________________________

Mời đọc thêm:

Thánh nhạc phải hội nhập trong ngôn ngữ 

âm nhạc đương đại


“Thánh nhạc có nhiệm vụ đem lại cho chúng ta vẻ đẹp của Thiên Chúa, vì thế đừng bao giờ để nó phải rơi vào tình trạng tầm thường và hời hợt”. Đức Thánh Cha đã khẳng định trong bài diễn văn tham dự Hội nghị quốc tế về Thánh nhạc vào sáng 4/3/2017 do Hội đồng Tòa Thánh về Văn hóa, Bộ Giáo dục Công giáo, Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc và Giáo hoàng Học viện về Phụng vụ thuộc trường thánh Anselmo ở Roma tổ chức. Hội nghị quốc tế diễn ra dưới sự hướng dẫn của Đức Hồng y Gianfranco Ravasi, chủ tịch Bộ Văn hóa, với chủ đề : “Âm nhạc và Giáo Hội : việc phụng tự và văn hóa 50 năm từ sau Huấn Thị về Thánh Nhạc – Musicam Sacram”.

Đào sâu mối tương quan giữa Thánh nhạc và văn hóa đương đại, Đức Thánh Cha nhấn mạnh : Giáo hội cần phải bảo vệ các di sản được thừa hưởng từ quá khứ và đồng thời phải làm cho thánh nhạc được “hội nhập văn hóa” (incultura) vào trong các ngôn ngữ nghệ thuật và âm nhạc đương thời. Thánh nhạc giúp cho các tín hữu bước vào trong Mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chiêm ngắm và cảm nhận được Người.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích bài diễn văn của mình bằng cách khởi đi từ huấn thị Musicam Sacram, nhân kỷ niệm 50 năm ngày ban hành và sau đó nhắc lại ưu tư của các nghị phụ trong Công đồng Vatican II, qua Hiến chế Phụng Vụ Thánh - Sacrosanctum Concilium – về sự cần thiết để các tín hữu khi tham dự phụng vụ có thể hiểu được hoàn toàn bằng ngôn ngữ của mình.

CÁO PHÓ: Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách, vừa qua đời lúc 7 giờ sáng ngày 6/3/2017 tại Tòa Giám Mục Nha Trang



CÁO PHÓ
TRONG NIỀM TIN YÊU VÀO ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

GIÁO PHẬN NHA TRANG TRÂN TRỌNG KÍNH BÁO
ĐỨC ÔNG PHÊRÔ NGUYỄN QUANG SÁCH,
 
 
                                                
 

 ​đã được về cùng Chúa, 
lúc 7g00, thứ Hai ngày 6 tháng 3 năm 2017
tại Tòa Giám Mục Nha Trang
Hưởng thọ 94 tuổi, 64 năm Linh mục

Thánh lễ an táng vào lúc 9g00 sáng thứ Năm, ngày 9 tháng 3 năm 2017
Tại  Nhà Thờ Chánh Tòa Nha Trang
Do Đức TGM Phaolô Bùi Văn  Đọc, chủ tế
An nghỉ tại nghĩa trang Linh Mục Giáo phận
 
Tiểu sử Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách 
 
-         Sinh tại Diên Sơn – Diên Khánh – Khánh Hòa ngày 3/9/1923
-         Thuộc Giáo xứ Cây Vong, Giáo hạt Diên Khánh, Giáo phận Nha Trang
-         Tu học tại tiểu chủng viện Làng Sông –Qui Nhơn: 1934 – 1942
-         Tu học triết học và thần học tại Đại Chủng Viện Qui Nhơn: 1942 – 1950
-        Thụ phong Linh mục tại nhà thờ Hà Dừa ngày 3/8/1953 do Đức giám mục Marcel Piquet,
          Giám mục đại diện Tông  Tòa Qui Nhơn.
 
Đã thi hành các nhiệm vụ:
 
·        Phó xứ nhà thờ Đà Nẵng: 8/1953 – 9/ 1953
·        Phó xứ nhà thờ Hộ Diêm: 9/1953 – 1955
·        Chánh xứ giáo xứ La Nang – Quảng Nam: 1955 – 1956
·        Chánh xứ giáo xứ An Sơn – Quảng Nam: 1956 – 1957
·        Giáo sư tại Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang: 1957 – 1964
·        Chánh xứ giáo xứ Ninh Hòa và Gò Muồng: 1964 - 1967
·        Giám đốc Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang: 1967 – 1972
·        Chánh xứ giáo xứ Gò Muồng: 1972
·        Chánh xứ giáo xứ Hà Dừa: 1973 – 1979
·        Chánh xứ giáo xứ Chánh Tòa – Nha Trang: 1979 – 2001
         Hạt trưởng Nha Trang và Tổng đại diện Giáo phận Nha Trang: 1979 – 2001
·        Được Tòa Thánh ban tước Đức Ông ( Monseigneur ) ngày 22/09/2001
·        Hưu dưỡng tại Nhà Nghỉ Dưỡng Giáo Phận: 2001 - 2017
         An nghỉ trong Chúa lúc 7g00, ngày 6/3/2017, tại Tòa Giám Mục Nha Trang.



Đức Cha Giuse Giám mục Giáo phận Nha Trang kính viếng Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách vào ngày 06.03.2017

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

MÙA CỦA TÌNH THƯƠNG - TGM Ngô Quang Kiệt (Lễ đưa chân Đức cha Giuse Vũ Duy Thống)


Kết quả hình ảnh cho ngo quang kiet    Kết quả hình ảnh cho vu duy thong

Thứ Bảy sau Lễ Tro
MÙA CỦA TÌNH THƯƠNG
Is 58,9b-14; Lc 5,27-32
Lễ đưa chân Đức cha Giuse Vũ duy Thống
Châu sơn 4-2-2017

Ta có thể gọi mùa chay là mùa của tình thương. Như thư 2 Cô-rin-tô nói: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ”. Lời Chúa hôm nay minh hoạ sinh động tấm lòng yêu thương của Thiên Chúa.

Lòng yêu thương của Chúa biểu lộ trong việc kêu gọi Mát-thêu. Tình yêu thương tiến hành trong ba bước.

Bước thứ nhất: đi tìm. Mát-thêu đang ngồi ở bàn thu thuế. Nghĩa là đang ở nơi tội lỗi. Thế mà Chúa cất công đến tận nơi để tìm ông. Đi tìm đã là yêu thương lắm rồi. Đi tìm ở nơi tội lỗi lại càng yêu thương hơn nữa.

Bước thứ hai: gọi theo. Tình yêu thương chưa dừng lại ở đó nhưng còn tiến xa hơn. Chúa mời gọi ông theo Chúa. Và còn yêu thương đến không ngờ Chúa tiến đến bước thứ ba: tuyển chọn ông làm tông đồ.

Bước thứ ba: tuyển chọn. Đây là tình yêu ở mức cao nhất. Cho ông được chung phần chia sẻ kế hoạch cứu độ của Chúa.

Quả thực tình yêu thương của Chúa thật lớn lao cao cả không ai hiểu được. Chúa ví mình như người thày thuốc đi tìm cứu chữa người bệnh. Đúng như I-sa-ia tiên báo trong bài đọc 1: “Nhờ ngươi, người ta sẽ tái thiết những tàn tích cổ xưa, ngươi sẽ dựng lại những nền móng của các thế hệ trước, người ta sẽ gọi ngươi là người sửa lại những lỗ hổng, là kẻ tu bổ phố phường cho người ta cư ngụ”. Người chuyên đi cứu vớt, vực dậy, tái thiết, chữa lành. Lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Đọc Lời Chúa hôm nay tôi liên tưởng đến Đức cha Giuse Vũ duy Thống, người bạn của tôi từ 53 năm nay.

Ngài là người thông minh tài trí hơn người. Học môn gì cũng xuất sắc. Nhưng ngài trổi vượt trong lãnh vực văn hoá. Chẳng thế mà ngài viết văn làm thơ làm nhạc rất hay. Chất văn hoá thấm đậm con người. Đi vào ẩm thực rất tinh tế. Và đặc biệt biểu lộ trong lối cư xử rất tế nhị.

Từ khi làm giám mục ngài lập tức được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Văn hoá của HĐGMVN liên tiếp  6 khoá cho đến nay. Từ khi ngài phụ trách tạp chí Hiệp Thông, tờ báo mới có diện mạo trang nhã và nội dung phong phú như ta thấy ngày nay. Đây có thể nói là một công sức lớn ngài đóng góp cho Giáo hội. Làm báo là chịu nhiều áp lực. Báo công giáo lại càng chịu nhiều áp lực hơn. Nhưng ngài vừa kiên quyết vừa khéo léo vượt qua tất cả. Một ví dụ tiêu biểu. Khi vụ Toà Khâm Sứ nổ ra Nhà Nước tìm mọi cách xuyên tạc bưng bít. Nhiều nơi kể cả những bậc vị vọng nghe theo Nhà Nước và không dám bén mảng đến Toà Khâm Sứ và không dám nói gì. Đức cha Giuse là người mạnh dạn đăng bài trên báo Hiệp Thông nói sự thật về Toà Khâm Sức.

Một công trình khác của ngài là Nhà Truyền Thống của Tổng giáo phận Saigon. Ngài đã có sáng kiến, có tâm huyết thu thập cổ vật và trình bày lịch sử Giáo hội đầy sinh động và ý nghĩa.

Hơn nữa ngài còn là thành viên của Hội đồng Giáo hoàng về Văn hoá của Toà Thánh trong 2 nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ 5 năm. Ngài đã cộng tác với Đức Hồng Y Poupard để  “évangélisation des cultures và inculturation de l’Évangile”. Đây là một kiểu chơi chữ đầy văn hoá nhưng cũng nói lên sứ mạng của văn hoá. Đó là Phúc âm hoá các nền văn hoá và Hội nhập Phúc âm vào văn hoá. Nói nôm na là biến Phúc âm thành văn hoá và biến văn hoá thành Phúc âm.

Tuy tài cao học rộng nhưng tính tình ngài phóng khoáng, phong cách giản dị, hoà đồng với mọi người. Hôm nay chiêm ngắm Chúa Giê-su đồng bàn với các bạn bè của Mát-thêu tôi thấy hiện lên hình ảnh của ngài. Ngài sẵn sàng đồng bàn với đủ mọi người thuộc mọi tầng lớp giai cấp, văn hoá, phe nhóm và quan điểm khác nhau.  Không bao giờ bệ vệ uy nghi quan cách, nhưng luôn vui tươi đơn sơ. Ngài chuyện trò rất vui. Có thể ngẫu hứng hát một bài phục vụ mọi người.

Cũng như Chúa Giê-su yêu thương và cư xử tế nhị với người tội lỗi, trân trọng và tuyển chọn Mát-thêu, đức cha Giu-se không lên mặt đạo mạo dậy đời. Trái lại ngài rất tinh tế và tế nhị. Không đồng tình với cái xấu nhưng luôn yêu thương và kính trọng người lầm lỗi. Vì thế những góp ý dậy dỗ của ngài khéo léo tế nhị và đi vào lòng người. Ta có thể thấy được điều đó qua các tác phẩm của ngài.

Nói về tình yêu chung thuỷ ngài mượn hình ảnh đôi dép. Đi đâu cũng có nhau. Mòn đều nhau. Nếu mất một chiếc, dù có tìm được chiếc khác thay thế, nhưng người đi sẽ thấy ngượng chân.

Nói về thái độ sống ở đời ngài mượn hình ảnh hạt cà phê. Cùng vào nước nóng là cuộc đời có những phản ứng khác nhau. Cà rốt thì ù lỳ chấp nhận nên trở nên mềm nhũn. Trứng tìm đối kháng nên trở nên chai đá. Riêng cà phê hoà với nước nóng làm mùi thơm lan toả cho đời.

Nói về thái độ trân trọng những gì nhỏ bé trong đời ngài mượn hình ảnh một chút. Một chút những viên đá nhỏ nhưng nhiều chút lại thành hòn núi. Một chút thời gian nhưng nhiều chút thành cả một cuộc đời. Một chút cởi mở tươi vui thì xa xôi cũng thành gần gũi.

Cứ thế những lời của ngài không làm người nghe bị áp đặt, nhưng tự tìm thấy chân lý và tự mình thay đổi.

Hôm nay ngày thứ bảy đầu tháng không thể không nói đến Đức Mẹ. Đức cha Giu-se có lòng yêu mến Đức Mẹ sâu xa. Không những đã phổ nhạc bài thơ “Sao em không lần chuỗi” của Xuân ly Băng để khích lệ mọi người lần hạt, mà còn làm cho nhiều người yêu mến Đức Mẹ. Từ khi về Phan thiết, với tài tổ chức và lòng yêu mến Mẹ, ngài đã biến Tà-pao thành một địa điểm hành hương sốt sắng. Ngày 13 mỗi tháng nhiều ngàn người tuốn về Tà-pao và nhận được vô vàn ơn phúc qua tay Đức Mẹ.

Yêu mến Đức Mẹ nên ngài cũng có tâm tình của một người mẹ đối với đoàn chiên. Không bao giờ coi con mình là xấu. Luôn tin tưởng con người có thể trở nên tốt. Vì thế luôn kính trọng con người. Hoà đồng với mọi người. Nhẹ nhàng sửa lỗi trong yêu thương tế nhị và kính trọng. Nhờ đó nâng con người lên.

Mùa Chay là mùa Chúa tỏ tình yêu thương đi tìm cứu độ con người. Đức Cha Giu-se đã là người thợ làm trong cánh đồng của Chúa. Ngài không ngừng gieo và gặt yêu thương. Ảnh hưởng yêu thương và hiệp nhất ngài tạo ra thật lớn lao và sâu xa. Tưởng nhớ ngài, chúng ta hãy tiếp tục công việc tốt đẹp của ngài: yêu thương và kính trọng mọi người. Để mùa yêu thương nở rộ khắp nơi.

Đức Tổng  Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt 
(Bài do Nắng Tím gởi đến Ban biên tập)
Nguồn: http://gpphanthiet.com