Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

NGƯỜI VIỆT QUA CÁCH NÓI NĂNG CƯỜI CỢT





Vương Trí Nhàn
  
Không còn lễ nghĩa liêm sỉ

Nước ta, những nơi chợ búa thành phố, không luận đàn bà trẻ con, đến người có học biết chữ mà cũng mở miệng là nói lời thô bỉ. 

Tập thành thói quen, những tiếng tục tĩu, người nghe nhơ cả lỗ tai, mà người nói lại lấy làm khoái.

Cho đến câu mắng bài chửi, đọc ra có cung có điệu, người nào mắng chửi cả ngày mà không trùng lặp, thì người ta xem như Tô Tần, Trương Nghi (1), chiếm giải quán quân.

Đến lúc diễn ra cái bộ dạng mắng chửi, tiếng như mõ rao, chân như múa hát lên tay xuống ngón, mặt như sơn đổ, tóc như tơ vò, nước miếng như bọt giải, tay cầm dát lia, chân đi cà xiểng (2) không khác gì người điên.

Lại còn một điều xấu nữa, hễ có bất bình với ai thì phát thệ (3) và nguyện rủa chúc dữ(4) rất nặng.

Thường hàng ngày cùng giao du với nhau, mà đến lúc bỏ nhau, chất chứa điều bất bình lâu, thì khí yêu (5) nhân đó mà sinh ra, người nọ bảo người kia “đầy miệng điều láo, một ngày bán được ba gánh giả, đến đâu cũng dối, ba ngày không mua được một điều thực “.

Thật là không còn chút lễ nghĩa liêm sỉ nào! Cái phong tục kiêu bạc (6) đến thế là cùng.Thế giới chưa có nước nào như xứ mình!
   
(1) các nhà thuyết khách nổi tiếng đời Chiến quốc bên Trung quốc
(2) dát lia – chưa tra cứu được; còn cà xiểng , theo Đại Nam quốc âm tự vị , là Ngao du không biết công chuyện chi mà làm, không nên sự gì
(3) thề bồi
(4) chúc: khấn. Chúc dữ: ước cho mắc sự dữ
(5) tinh thần gian tà bất chính
(6) cũng tức là khinh bạc với nghĩa cổ: kẻ không biết tự trọng 
  
Nguyễn Trường Tộ
 Về việc cải cách phong tục, 1871
  
Những câu chửi rủa quá quắt

Nói tục, nói bẩn chắc hẳn không người nước nào bằng người An Nam ta. Lắm câu chửi rủa của ta, không tiếng nước nào dịch nổi, giả thử những người nói ra có nghĩ đến nghĩa từng tiếng thì đứa nặc nô (1) cũng phải đỏ mặt đến lòng trắng mắt.

Thử ngẫm mà xem, những câu ấy có nghĩa lý gì đâu.

Bảo người ta ăn những gì những gì thì có nghĩa lý nào? Gọi ông cha mấy đời người ta lên mà chém mà vằm cũng không có nghĩa gì cả.

Người ngay thật có ai sợ nhưng câu chửi rủa ấy đâu? Mà người mở mồm nói những tiếng dơ bẩn ấy, thì thực là xấu cho cái miệng quá, ra ngay con người thô tục.
  
(1) nặc nô: người làm nghề đi đòi nợ thuê ngày xưa; nghĩa rộng là người đanh đá ghê gớm

Nguyễn Văn Vĩnh
 Ăn nói thô tục, Đông dương tạp chí, 1914

Tây không ra tây, tàu không ra tàu, ta không ra ta

Người mình không những nghề diễn thuyết chưa biết, mà đến nói câu chuyện cho có đầu đuôi manh mối cũng ít người nói được.

Khi hội đồng (1), thời (2) chẳng khác gì như họp việc làng, tranh nhau nói, ồn ào lộn xộn mà ít ai nói được câu gì cho có nghĩa lý, chỉ bẻ hành bẻ tỏi nhau những cái vặt vặt chẳng đâu vào đâu.

Khi yến tiệc thời đương câu chuyện vui, gặp có tiếng gì buồn cười, nhất là nói tiếng bẩn, ông nào to miệng cả tiếng thở ra một cái cười hà hà, cử toạ đều cười ầm cả lên đến vỡ đổ nhà; thế là câu chuyện tan.

Chỗ công môn thời ông quan nói, muốn ra oai mặt sắt chỉ nói nhát gừng, cách một vài câu lại điểm những tiếng nghe chưa ? nghe chưa? thằng dân thưa thời gãi tai gãi đầu, chỉ nghe những tiếng bẩm bẩm dạ dạ nói không ra lời. Mấy cậu thiếu niên thời toa toa moa moa (3) ngậu xị cả đường phố , câu chuyện không những vô vị mà thường bất thành ngôn (4) nữa.

Thời buổi nhố nhăng, ngữ ngôn bác tạp, anh bồi chú bếp con bạc làng chơi ả giang hồ cậu công tử, tây không ra tây, tàu không ra tàu, ta không ra ta, có nhiều cái xã hội không biết họ nói thứ tiếng gì.

Thử tìm khắp trong nước được mấy người là biết nói năng lịch sự ? Thật ít quá.
   
(1) Cuộc hội họp đông người để bàn việc công (nghĩa cũ )
(2) thì
(3) mày mày tao tao
(4) không nên lời

Phạm Quỳnh
 Pháp du hành trình nhật ký,1922

Thiên về những cái tầm thường thô bỉ

Ai có ý đến những nơi họp tập, hoặc là chỗ chơi bời thì thực là buồn thay cho cái trí dục của những ngư ời đời nay.

Ngoại giả chuyện cô đầu, chuyện cờ bạc, chuyện hát tuồng, chuyện chim chuột, chuyện quần áo còn thì không mấy khi đư ợc nghe những câu chuyện lý thú, làm tỏ đư ợc học vấn kẻ nói, lợi đ ược trí khôn ng ười nghe.

Mà xem như  trong cách nói chuyện, thì thiếu niên (1) ta nghe lại có ý thích những câu chuyện tầm thư ờng, nói chuyện để mà khoe cho ng ười nọ ngư ời kia biết cái cách của ta chơi xa xỉ hoặc là kỳ khu (2)...

Ai ăn nói có t ư t ưởng có tỏ học vấn thì th ường ng ười nghe thích như ng ít cầu, vì câu chuyện có nghĩa, làm cho phải nghĩ, phải đối đáp nhọc mệt...

Ng ười nói chuyện hay, cũng có kẻ phục là ngư ời có ích, nh ưng trong cái phục có cái ghen có cái ghét. Ghen là vì ở đâu đến cư ớp mất tai kẻ nghe, ghét là vì ở đâu đến làm tỏ cái nhàm của câu cư ời cợt tầm thư ờng ng ười ta đang thú.
  
(1)hồi đầu thế kỷ XX, chữ thiếu niên không phải dùng để chỉ lớp thiếu nhi từ 10 đến 14 tuổi như bây giờ. Mà có nghĩa là ng ười trẻ tuổi, tức lớp thanh niên 18 tuổi trở lên.
(2)tỉ mỉ, mất nhiều công sức
   
Nguyễn Văn Vĩnh
 Đông dư ơng tạp chí, 1914

Tật huyền hồ sáo hủ (1)

Xét trong văn chương, xảo kỹ nước Việt Nam, điều gì cũng toàn là huyền hồ giả dối hết cả, không cái gì là thực tình... Thời tiết nước mình thì không biết một chút chi chi, tả đến tứ thời thì xuân phải phương thảo địa, hạ phải lục hà trì, thu phải hoàng hoa tửu, đông phải bạch tuyết thi (2). Thành ra đến câu hát cũng hát cho người, cảnh nhà mình thì như mắt mù tai điếc. Mượn chữ người, mượn đến cả phong cảnh tính tình chớ không biết dùng cái vật liệu mượn ấy mà gây dựng lấy văn chương riêng cho nó có lý tưởng đặc biệt.

Người Việt Nam lý hội (2) điều đẹp cũng có một cách lạ. Sách Tàu tả người đẹp môi son mắt phượng, mày ngài khuôn trăng mình liễu thì bao giờ tả người đẹp ta cũng cứ thế mà tả.
  
(1) huyền là sự gì lơ lửng không dính vào đâu; hồ là lời nói càn; sáo là lời dựa theo khuôn có sẵn; hủ là lời khoe khoang; bốn chữ này ghép lại chỉ sự ăn nói lời nói linh tinh, trống rỗng, giả tạo
(2) vùng đất đầy cỏ thơm, ao sen xanh mướt, rượu hoàng hoa và thơ tả tuyết trắng
(3) hiểu, quan niệm

Nguyễn Văn Vĩnh
Tật huyền hồ sáo hủ, Đông dương tạp chí,1913

Trong tiếng cười ẩn chứa nhiều ý xấu

An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì, phải cũng hì mà quấy (1) cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng mọi việc hết nghiêm trang.

Có kẻ bảo cười hết cả cũng là một cách của người hiền(2). Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thẩy, không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày nghĩ ngợi...

Nhưng mà xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cách láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không không phải nghe hết nhời người ta mà đã gièm trước cái ý tưởng của người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc (3) người ta.

Gì bực mình bằng rát cổ bỏng họng, mỏi lưỡi tê môi để mà hỏi ý một người, mà người ấy chỉ đáp bằng một tiếng hì, khen chẳng ơn, mắng chẳng cãi hỏi chẳng thưa, trước sau chỉ có miệng cười hì thì ai là không phải phát tức ?
  
(1) sai, trái với lẽ phải
(2) người có đức hạnh, tài năng
(3) ở đây không có nghĩa sự nghiệp to lớn mà chỉ hàm ý công việc nói chung

  
Nguyễn Văn Vĩnh
 Gì cũng cười, Đông dương tạp chí, 1914

 Tiếng cười vô duyên

Có một phần đông người Pháp ở đây, ta hằng ngày thấy họ, cũng có thể chiêm nghiệm được một dân tộc.

Ví dụ như gặp khi trời mưa, đường trơn có người nào đó bất kỳ đi vô ý mà trượt té, bấy giờ có năm ba người Pháp đứng đó họ có cười không?

Tôi, và nhiều người như tôi, dám chắc rằng họ chẳng những không cười mà còn chạy lại để đỡ người bị té ấy lên nữa.

Còn như con rồng cháu tiên ta, tôi cầm chắc rằng trước khi chạy lại đỡ, ta phải cười một chặp cho no nê đã.
  
Phan Khôi
 Phụ nữ tân văn 1931
  
Nói bừa nói bãi,tủi nhục cho cả nòi giống

Không biết nói không biết, đó là nghĩa vụ thứ nhất của người muốn học muốn hiểu. Đằng này nhiều người ở ta lại làm như trong thế giới này cái gì cũng rõ ràng minh bạch, tựa hai lần hai là bốn.

Ai không tin là thế, họ liền phê cho hai chữ: thần bí; hai chữ ấy trong trí họ tức là ngu xuẩn điên rồ.

Họ không ngờ rằng họ lại “thần bí” hơn ai hết.

Có những vấn đề xưa nay bao người tài giỏi suốt đời nghiền ngẫm chưa tìm ra manh mối.Thế mà cái điều một ông Pasteur một ông Einstein không dám nói, ngày nay ở xứ ta những cậu học sinh vừa mới bước chân ra khỏi trường Sơ học đã giảng giải được lên sách, lên báo, theo những phương pháp cuối cùng của khoa học.

Thế giới còn chờ gì mà không khắc bia xây tượng để đền ơn họ.

Nói chơi vậy thôi, chớ cái việc họ làm đó là một sự tủi nhục vô cùng cho nòi giống.

Cả một đám thanh niên chưa có lấy cái học phổ thông cũng tấp tểnh chạy theo những lý thuyết cao thâm của siêu hình học.

Có lần chúng tôi thấy một thiếu nữ trước đâu mới học đến lớp ba lớp tư gì đó đương hăng hái giảng giải về duy tâm và duy vật. Chúng tôi chán ngán không biết nên khóc hay nên cười. Thực là một cái họa !
  
Hoài Thanh
 Một cái họa, Văn chương và hành động,1936
  
Hay cãi nhau, thích kiện tụng
  
Những vụ cãi nhau nảy ra ngay từ cách tổ chức làng xã.

Xã hội hương thôn chia thành các giai cấp lệ thuộc vào nhau. Muốn thực hiện các điều kiện cần thiết để bước vào một trong những giai cấp đặc quyền, người ta phải cúng Thành hoàng và mời mọi người ăn uống.

Điều đó thật tàn hại: người ta đi vay với lãi cao, cầm cố nhà và ruộng, bắt vợ con chịu thiếu thốn.

Khi thuộc giai cấp đặc quyền thì vấn đề là phải biết bảo vệ đặc quyền của mình.

Người ta sẽ đi đến tận Tòa án tỉnh, thậm chí Tòa thượng thẩm, chỉ vì miếng thịt chia không đều, hoặc một sự việc cực kỳ phù phiếm.

Người ta tiêu đến đồng tiền cuối cùng để giữ thể diện hoặc làm đối thủ mất mặt.

Lịch sử một số làng cũng là lịch sử kiện cáo. Có những làng mà tất cả ruộng đều thuộc sở hưũ của những làng lân cận. Đấy chính là những làng đã qua những vụ kiện nổi tiếng.

Nguyễn Văn Huyên
 Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ, 1939
  
Chỉ trích và châm chọc

Người Việt ít khi chịu chết vì tín ngưỡng hay vì một vĩ nhân nào đó đã chủ trương trái quyền lợi của họ.

Gặp lúc phải dồn vào thế yếu, họ chống lại ngay bằng phương pháp tiêu cực: chỉ trích và châm chọc.

Luôn luôn bị áp bức về kinh tế và chính trị, cuộc sinh hoạt tinh thần thường lẩn cả vào trong tâm tưởng nên sức phản ứng của tình cảm và tư tưởng không mau lẹ. Tính ưa hư danh là một tật phổ thông của những người hằng cố gắng tìm vượt lên trên địa vị hiện tại của mình. Tật cờ bạc, do cuộc sống chật hẹp gây nên, cũng là một tật phổ thông khác.
  
Lương Đức Thiệp
 Việt Nam tiến hoá sử,1944

(Nguồn: TTVHQN)

CHỨNG TÍCH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC NGỮ TỪ NĂM 1632 ĐẾN NAY: TIẾN TRÌNH CỦA KINH LẠY CHA



Tác giả Roland Jacques
Người dịch Nguyễn Đăng Trúc

Lời người dịch: Chúng tôi trích hai bản Phụ Đính trong tác phẩm song ngữ (Pháp Việt) “Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam” (Les missionnaires portugais et les débuts de l’Église catholique au Viêt-nam) của Roland JACQUES (Nxb: Định Hướng Tùng Thư , năm 2004) để cống hiến một chứng tích hình thành và phát triển chũ quốc ngữ từ năm 1932 dến nay, qua . tiến trình của Kinh Lạy Cha.
  
Phụ Trương VII
Tiến trình của Kinh Lạy Cha
Để lượng giá tiến trình của chính tả và ngữ nghĩa từ năm 1632, chúng tôi chép lại dưới đây vài bản văn kinh Lạy Cha tiếng Việt được viết bằng chữ cái.
Lưu ý : Đối với bản văn La Tinh của tài liệu và những chỉ dẫn phát âm, đề nghị xem bảng nhất lãm.
Bản văn gốc tiếng Việt trong tài liệu (1632)
 ðẽ ciúm toi sa cium cám dõ. Bèn cẽa ciúm toi cium tai dũ. toi bẽi. Lãi cœ ciúm toi bàm ciúm toi ít tha kẽ ciũ nœ i bẽi. Ciúm toi tlom cia rài cio ciúm toi hàm ngäì dum ðũ. Mà tha nœ i ciúm toi nguyẽn daim Cia cã sám. Coác Cia trĩ ðen. Bum í cia lam cium ðét bàm cium blœ tlen blœ Cia ciúm toi œ
Bản văn 1632 ghi lại theo chính tả được chuẩn hóa trong từ điển Alexandre de Rhodes (1651)
 đủ, mà tha nợ chúng tôi bàng chúng tôi ít tha kẻ chủ nợ tôi βậy. Lại chớ để chúng tôi sa chưng cám dĕỗ, bèn chữa chúng tôi chưng tai dữ. Cha chúng tôi ở tlên blời, chúng tôi nguiẹn danh Cha cả sáng. Cuốc Cha trị đến. βâng í Cha làm chưng đất [đết] bàng chưng blời βậy. Chúng tôi tloū Cha rày cho chúng tôi hàng ngày dū
Bản văn 1632 ghi lại theo qui tắc chính tả hiện nay:
Cha chúng tôi ở trên trời, chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng. Quốc Cha trị đến. Vâng ý Cha làm trưng [chưng] đất bằng trưng [chưng] trời vậy. Chúng tôi trông Cha rày cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ, mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi ít tha kẻ chủ nợ tôi vậy. Lại chớ để chúng tôi sa trưng [chưng] cám dỗ, bèn chữa chúng tôi trưng [chưng] tai dữ.
Bản văn kinh Lạy cha 1700-1750 [1]
 tha kẻ có nợ chúng tôi vậy. Xin chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ. Bèn chữa chúng tôi chưng sự dữ. Chúng tôi lậy thiên địa chân chúa ở trên blời là cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện danh [cha] cả sáng. Cuốc cha trị đến. Vâng ý Cha [làm] dưới đất bằng trên blời vậy. Chúng tôi xin cha rày [cho] chúng tôi hằng ngày dùng đủ. Mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi cū
Bản văn kinh Lạy Cha nhận vào năm 1905
Lạy Cha chúng tôi ở trên trời, chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Vưng ý Cha làm dưới đất bằng trên trời vậy. Chúng tôi xin Cha cho chúng tôi rày hằng ngày dùng đủ. Và tha nợ chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi. Lại chớ để chúng tôi phải sa cám dỗ, bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ.
Bản văn kinh Lạy Cha được đề xuất năm 1992
Lạy Cha chúng con là Ðấng ngự trên trời, xin làm cho danh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con; xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
________
Phụ Trương V – Bản văn tiếng Việt
A – Le Pater Noster
* Lưu ý : Trong bản viết tay năm 1632, các cột chữ hầu như đều tương ứng với nhau, ngữ nghĩa lại khác nhau tùy mỗi thứ chữ. Ở đây chúng tôi theo nguyên tắc ấy. Bản 1992 đặc biệt đã thay đổi cú pháp truyền thống của Kinh Lạy Cha. Xin đừng xem cột cuối là bản dịch các cột song song đằng trước.

 
B. Từ vựng
C. Số
Chú thích thống kê về từ vựng trong văn kiện 1632

Nếu ta thử xếp loại các từ theo chữ Nôm (N), Hán-Việt (HV) và hỗn hợp (HVN), theo những qui ước trong từ điển Huình-Tịnh Paulus Của [Dictionnaire annamite. Đại Nam quấc âm tự vị, 2 tập, Saigon, Rey-Curiol, 1895-1896], ta sẽ có kết quả sau:

Đối với kinh Lạy Cha:
Tất cả mọi chữ: HV 19; HVN 5; N 41, nghĩa là giữa 23.2% và 27,1% Hán Việt
Từ vựng: HV 13; HVN 3; N 27, nghĩa là giữa 33,1 và 37,2% từ Hán Việt
Đối với toàn bộ tài liệu.
Tất cả mọi chữ: HV 30; HVN 7; N 116, nghĩa là giữa 19,6% và 27,1% Hán Việt
Từ vựng: HV 23; HVN 5; N 93, nghĩa là giữa 19,0% và 27,1% từ Hán Việt



[1] Những chữ trong móc đơn dường như là vô tình bị bỏ sót trong bản chép tay.


Nguyễn Văn Vĩnh: ‘Ông tổ của nghề báo’ Việt Nam




Viên Linh


“Ờ, báo là đệ tứ quyền, thật thế; nhưng là đệ tứ quyền ở các nước Âu Châu, chớ ở nước ta thì nói như thế làm gì, cho mắc cỡ...




Nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936).

Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”)

Tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở Ðông Dương xuất bản ở Sài Gòn (1) chứ không phải ở Hà Nội, tuy nhiên Nam Việt lúc ấy ở dưới quyền cai trị của một thống đốc Pháp, nên khi ông Nguyễn Văn Vĩnh (chủ bút sáng lập Ðăng Cổ tùng báo, 1907), từ trần ngày 2 tháng 5, 1936, đám tang ông được tham dự đông đảo các đại diện làng báo của cả 3 kỳ Nam Trung Bắc, trọng thể và đông đảo, diễn hành trên đường phố dưới dòng chữ vinh danh “Ông tổ của nghề báo” Việt Nam.

Xem tiểu truyện nghề nghiệp và thân thế của ông, Nguyễn Văn Vĩnh xứng đáng được dương danh như thế, vì ngay từ nhỏ, cho tới khi vỡ nợ vì tờ Nhật báo Annam Nouveau (1931-1934), ông đã tự học nghề báo, tự ra báo lấy, và gây dựng nên những tờ báo còn được nhắc nhở mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, không ngừng là một người sáng lập và canh tân báo chí đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh từng làm chủ bút “Ðại Nam đăng cổ tùng báo” (Hà Nội, 1907) “Lục Tỉnh Tân văn” (Saigon, 1910), chủ trương tờ Notre Journal (1908-1909), xuất bản tờ Notre Revue (1910), chủ bút “Ðông Dương Tạp Chí” (1913) và Trung Bắc Tân Văn (1915). Năm 1919, ông mua lại “Trung Bắc Tân Văn” của một người Pháp và biến nó thành nhật báo. (2)

Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15 tháng 6 năm 1882, tại Hà Nội nhưng quê ở phủ Thường Tín, tỉnh Hà Ðông và qua đời vào ngày 2 tháng 5, năm 1936 nghe đâu trên một con thuyền độc mộc ở dòng sông Tchépone bên Lào vì bệnh sốt rét ác tính. Ông chết thế kể là quá trẻ, mà lại là một cái chết xa gia đình xa quê hương. Nhưng ông không bao giờ xa ngòi bút: ông vẫn viết bài từng kỳ trong loạt ký sự về những người mạo hiểm vào nơi ma thiêng nước độc như ông để tìm vàng và tương truyền trong thuyền vẫn còn tập giấy và cây bút ông đương dùng để viết loạt này khi ông lìa đời. Cho tới nay, chưa có một hay lẽ ra nhiều công trình nghiên cứu hẳn hòi về sự nghiệp lẫy lừng đa dạng của ông từ dịch thuật, báo chí cho đến xuất bản và sự vận động cho phong trào quốc văn. Nhưng đã có những cố gắng rất tốt đẹp mới đây của cả hậu duệ và giới chuyên môn Việt Nam nhắm đặt một chỗ ngồi xứng đáng hơn cho ông trên văn đàn, nhất là đã có một website cung cấp rất nhiều tư liệu giá trị và tin cậy về ông. Nhân ngày qua đời của ông cách đây gần 80 năm, chúng tôi xin được tưởng niệm “thủy tổ nhà báo xứ sở” Nguyễn Văn Vĩnh bằng một số tin tức góp lại từ nhiều tác giả kỳ cựu.

Tuần báo Ðông Tây viếng ông một câu đối hàm ý đó:

“Chẳng quan mà quý, chẳng phú mà hào, giữa trời Nam gió thổi tung mây, gan óc dễ đâu vùi chín suối. Có lưỡi như cồng, có bút như thép, trong làng báo mở cờ khua trống, văn chương âu cũng đủ nghìn thu.”

Về mặt xuất bản, ông cùng một người Pháp là Vayrac thành lập nhà xuất bản Âu Tây Tư Tưởng (La pensée de l'Occident) in ấn và phát hành các sách do ông dịch thuật. Những nhan đề sau đây sẽ nhắc nhở cùng bạn đọc các công trình dịch thuật to lớn của vị tiền bối mà người viết bài này tin rằng không nhiều thì ít, chúng ta từng đã nghe nói đến, nếu không là đã đọc qua: Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (dịch Les trois mousquetaires của Dumas, père), Mai Nương Lệ Cốt (dịch Manon Lescault của A. Prevost), Thơ Ngụ Ngôn La Fontaine (dịch Les Fables của La Fontaine), Những Kẻ Khốn Nạn (dịch Les Miserables của V. Hugo), Trưởng Giả Học Làm Sang, Kẻ Biển Lận, dịch Molière v.v... còn rất nhiều. Và Nguyễn Văn Vĩnh chính là người đầu tiên đã dịch Kim Vân Kiều của Nguyễn Du ra Pháp ngữ.

Trên hết thẩy, sự nghiệp làm báo, chứa đựng tâm huyết của ông qua những bài xã luận và dịch thuật, là một điều những người đi sau ông cần nghiên cứu kỹ. Ông đúng là một ký giả chuyên nghiệp và đầy lương tâm, đã từ chối những ân huệ của người Pháp để tranh đấu cho tổ quốc và lý tưởng của mình bằng ngòi bút. (Hai lần từ chối huân chương Bắc Ðẩu Bội Tinh của Pháp.) Như thế, ngay trong những ngày phôi thai của làng báo Việt ngữ, đã có người dám so sánh kẻ làm báo với “những nhà cách mạng.” Ðó là điều đáng cho giới hành nghề truyền thông ngẫm nghĩ, gần 80 năm sau khi ký giả Nguyễn Văn Vĩnh qua đời với loạt ký sự dở dang kia.



Trang đầu nguyên văn bài thơ của Thơ La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, in trong cuốn sách xuất bản năm 1951 tại Hà Nội.

Ðể nhớ Nguyễn Văn Vĩnh, và nhớ thời còn nhi đồng, xin đọc vài lời thơ dịch của ông:

Con ve và con kiến

Ve sầu kêu ve ve,

Suốt mùa hè.

Ðến kỳ gió bấc thổi,

Nguồn cơn thật bối rối.

Một miếng cơm chẳng còn,

Ruồi bọ không một con.

Vác miệng chịu khúm núm

Sang chị Kiến hàng xóm,

Xin cùng chị cho vay,

Dăm ba hạt qua ngày.

“Từ nay sang tháng hạ,

Em lại xin đem trả.

Trước thu, thề Ðất Giời!

Xin đủ cả vốn lời.”


Chú thích:

1. Tờ Gia Ðịnh báo với giám đốc Trương Vĩnh Ký và chủ bút Huỳnh Tịnh Của, ra ngày 15 tháng 4, 1865.

2. Theo Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử Giản ước Tân biên-Tân học hiện đại 1862-1945.

(Nguồn: Viên Linh/ Nguoiviet)