Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

KONTUM - VẦN THƠ ĐẠO NGÀY ẤY...




Kontum – Vần thơ Đạo ngày ấy...

(Sưu tập thơ ca Giáo phận Kontum thập niên 1930)






Kontum – Vần thơ Đạo ngày ấy...

(Sưu tập thơ ca Giáo phận Kontum thập niên 1930)


                                                                                                             Minh Sơn


       Đã 165 năm kể từ ngày Tin Mừng được gieo vãi trên mảnh đất Tây Nguyên (1848-2013). Và cũng ngần ấy thời gian, hạt giống Lời Chúa - ban đầu tựa một hạt cải bé nhỏ - được gieo vào tâm hồn các thế hệ tín hữu của miền truyền giáo Kontum này, thông qua nền văn hóa bản địa, trong dòng chảy chung của nền văn hóa Việt.
       Bên cạnh dòng văn học dân gian của đồng bào các dân tộc Bahnar, Jrai, Sedang.v.v., từ xa xưa đã xuất hiện những câu ca truyền khẩu quen thuộc được lưu truyền trong dân gian tại Kontum cũng như dưới đồng bằng, ví như:
“Ai lên nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên”
       Hoặc:
“Ai lên nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”.

       Đặc sản “mít non” trên miền cao làm ta liên tưởng đến địa danh làng “Gò Mít” - làng người Kinh đầu tiên hình thành trên Kontum, tiền thân Tp Kontum ngày nay. Thứ thổ sản “mít” này được trồng nhiều và phát triển mạnh tại trung tâm Kontum đến mức nó được chọn để đặt tên cho làng: Gò Mít (giáo xứ Tân Hương ngày nay). Và cũng từ đấy, cùng với những lớp cư dân miền xuôi từ Nam-Ngãi-Bình-Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) lên Kontum ngày càng đông, cộng với các thế hệ người Kontum - mà trong số họ có nhiều tín hữu Công giáo, những vần thơ Đạo đã ra đời khơi nguồn tiếp bước cho công cuộc truyền giáo và chuyển tải kinh nghiệm sống đức tin của các bậc tiền bối cha anh, bằng hình thức nghệ thuật thi ca.

            Trong buổi “bình minh thơ ca” của Kontum, hiện chúng ta chưa sưu tầm được những sáng tác sớm nhất. Có chăng có lẽ là thi ca Bahnar dưới hình thức tục ngữ, danh ngôn (pơtih, tơdrong pơma pơtih), câu đố, bài vè, bài hát…đặt theo lối những câu ngắn ba bốn chữ, được gieo vần và ngắt câu theo nhịp  điệu[1]. Những thể loại thi ca Bahnar ấy đã có mặt rất sớm trong Tạp chí Hlabar Tơbang - tạp chí bằng tiếng Bahnar của Trường Kuênot, ra số đầu tiên từ năm 1911 tại Kontum[2].

            Đến đầu thập niên 1930, thơ ca Kontum mới dần định hình - nghĩa là mới bắt đầu có thơ lưu hành. Trong khi “thơ Đời” - thơ được sáng tác bởi các tác giả ngoài công giáo - chưa thấy xuất hiện nhiều và được ghi chép tản mạn[3], thì với việc ra đời của Tạp chí “Chức dịch Thơ tín” - tạp chí của “Hội chức việc Á thánh Năm Thuông” của Địa phận Kontum, năm 1933, rất nhiều bài thơ công giáo đã được sáng tác bởi các tác giả là linh mục, quí ông câu, biện, giáo dân, chủng sinh…lần lượt được đăng trong tạp chí này. Tuy là một tờ báo nội bộ của hàng chức việc, nhưng “Chức dịch Thơ tín” - do linh mục Phaolô Lê Đình Ban làm chủ bút (từ 1933 đến 11.1937, Cha Simon Nguyễn Thành Thiệt thay thế), dưới sự chuẩn nhận của Đức Cha Martial Jannin Phước (imprimatur), đã đề ra đường hướng mở rộng, cả về nội dung lẫn đối tượng độc giả:


 …Tô điểm văn chương lòng sở nguyện,
Khai đường thánh giáo ý hằng chăm.
Việc đời rao bảo người tri thức,
Lẽ đạo vẽ bày bạn phúc tâm.
                                     (“Tặng Thơ tín”- Lương ngọc Anh)

Ngồi nhà muốn rõ việc đông tây,
Tập chí Tín thơ có sẵn đây,
Mỗi tháng một kỳ nhiều chuyện mới,
Ít trang thời sự lắm điều hay.
                                                       (“Thơ tín”)
                                          
       Mục đích của “Chức dịch Thơ tín” đã được trình bày một cách rõ ràng:
“Mục đích Thơ tín rất hay,
Ung dung tao nhã phô bày lẽ công.
Cạn lời vàng ngọc vun trồng,
Đàng tà nẻo vạy Tây Đông tẩy trừ.
Êm lời diệu lẽ khuyên người,
Công bình chánh trực không tư nẻo tà,
Hằng lo phần rỗi người ta,
Cùng mong nước Chúa láng ra dẫy đầy,
Hỉ hoan truyền bá đông tây”…
…“Hỡi ai cổ động duy truyền,
Tận tâm giới thiệu khắp miền non sông”…
…“Tận tình khuyên bảo điều hay
In trong trí não dễ lay lòng người”.
                                   (“Mục đích Chức dịch Thơ tín” - Tên Tôi)   
                                               
       Và trong tạp chí này có hẳn một mục “Văn Uyển”, hầu như số nào cũng có thơ đăng. Tiếc rằng phong trào sáng tác văn học công giáo đã không trở thành dòng chảy liên tục, vì đến năm 1940, Tạp chí “Chức dịch Thơ tín” do thời cuộc đã không thể tiếp tục sứ mạng, đành chuyển đổi vai trò sau gần chục năm phụng sự “tô điểm văn chương, khai đường thánh giáo”[4], và cũng vì thế mà “Văn Uyển” từ đây vắng bóng những vần thơ, để lại một lỗ hổng trên con đường phát triển văn học nhà Đạo trên miền Tây Nguyên.

            Trong khi chưa có điều kiện tìm được thêm những sáng tác xuyên suốt qua các thời kỳ, trong phạm vi tập “Kontum – vần thơ Đạo ngày ấy” này, chúng tôi chỉ xin giới thiệu những bài thơ của các tác giả công giáo chủ yếu được in trong Tạp chí “Chức dịch Thơ tín” từ năm 1934-1939.

       Mặc dù là những cây bút “cây nhà lá vườn” với thiện ý “việc đời rao bảo người tri thức,/ lẽ đạo vẽ bày bạn phúc tâm”, nhưng các tác giả thơ “không chuyên” ở đây cũng đã cố gắng “cạn lời vàng ngọc vun trồng”, nên những vần thơ đạo Kontum thời kỳ này ngoài giá trị về nội dung truyền giáo, chúng cũng mang những giá trị nghệ thuật nhất định.

       *Về thể loại:  khá phong phú như thất ngôn, thất ngôn bát cú, lục bát, ngũ ngôn, vè.v.v., cũng có một số bài được làm theo thể thơ tự do (xem bài “Kỷ niệm tiễn bạn”), hay trong cùng một bài có những cách đặt câu gieo vần theo lối thơ mới (“Nhớ bạn”.v.v). Nên nhớ phong trào “Thơ mới” ra đời từ năm 1932 đã chủ trương cách tân về hình thức và cách diễn đạt thơ, tuy vậy cũng chưa ảnh hưởng nhiều đến những miền quê, vùng miền núi, vùng sâu vùng xa…
       *Về ngôn ngữ thơ: Các tác giả góp phần quảng bá và làm trong sáng vốn tiếng Việt. Tuy vẫn còn nhiều bài theo hình thức cũ, sử dụng từ ngữ cũ, từ Hán-Việt…nhưng cũng không hiếm những tìm tòi sáng tạo. Nhiều câu thơ đã lột tả những uẩn khúc  bên trong, như tâm sự của một cựu chủng sinh: “Xưa vui đó ai gọi vui buồn,/ Rày buồn đây thật là buồn vui” (“Kỷ niệm tiễn bạn”), diễn tả ý “trong niềm vui đã chực sẵn nỗi buồn, trong nỗi buồn cũng có những niềm vui” ta vẫn hay gặp nhiều trong “thơ mới”. Hay cách chọn lọc từ ngữ tinh tế có sức biểu đạt cao như bài “Coi cấy bị mưa Nam” sau đây:
Giữa đồng ké né hột mưa rơi,
Bốn mặt non sông cảnh với người.
Tâm sự ngậm ngùi cơn gió hút,
Cỏ cây hớn hở vật vùi chơi.
Hòn rồng núc ních chôn mây bạc,
Ngọn nước tươi nhuần rưới khắp nơi.
Tay Chúa dựng nên trời đất ấy,
Hỏi ông dành để lại cho ai?...
                                                 (Con út họ Môn Giang)

       “Ké né hột mưa rơi”, “ngậm ngùi cơn gió hút”, “Hòn rồng núc ních chôn mây bạc”…là những cảm nhận khá tinh tế, cho ta khám phá vẻ đẹp mờ ảo của núi Hòn Rồng (Gia Lai) trong cơn mưa, mặc dù chỉ lướt thoáng qua. (Rất tiếc câu cuối hơi bị lạc vận: ơi / ai!).

       *Về tác giả: Bên cạnh một số tác giả là cộng tác viên thường xuyên của tạp chí “Chức dịch Thơ tín” như A. Ngô Đình (bút danh của Lm Antôn Ngô Đình Thận), Xuân Thanh (tức ông Lôrenxô Nguyễn Xuân Thanh (1915-2008), là ông biện họ đạo Tân Hương, nguyên trước là thầy giáo làng)…Một số tác giả khác góp mặt với tên đầy đủ hoặc sử dụng bút danh - họ là người Kontum hoặc cũng có thể là cộng tác viên ở nơi khác như Lương Ngọc Anh, Cẩm Hương, Paul Thà (thầy Thà-Phương Nghĩa), Antoine X., Philippe T., Nhà đá, P. T., Đào Minh Nguyệt, Paul Tân Bút, Chúc dưng, Thanh Xuân, Con út họ Môn-giang, Michel N., Paul T. P. N., Tên Tôi, Nguyễn Hướng, N. khắc Toàn, T. N., Nguyễn Nhạn Hồng, Nguyễn Khắc Đoàn, L. Sáng Bạch, T. t. Thành…Một đội ngũ người viết khá dồi dào xuất thân từ tầng lớp có học như linh mục, thầy giáo, công chức, chức việc, chủng sinh…

       *Về nội dung: Chúng tôi xin tạm chia thành 3 phần, theo nội dung của các bài thơ. Đây chỉ là một cách chia tạm thời, mang tính tương đối, để bạn đọc dễ hình dung hơn mà thôi.

       1. Thơ, vè chúc mừng, chào mừng:
       Gồm một số bài chúc Tết, chúc bổn mạng Đức Cha, quí Cha và cộng đoàn, chúc mừng bổn báo; có bài được sử dụng kết hợp với múa chào mừng (xem bài “Ba đăng vũ ca”) hay bái lạy (“Minh Niên Trâu qua Cọp đến”, Bài I, Bài II). Những câu chúc thường khi vượt ra khỏi ranh giới của họ đạo, của giáo phận …mang ý nghĩa đại đồng:
                   …Chúc văn minh hằng tấn bộ,
Chúc phong hóa được cải lương.
Chúc công sĩ, chí nông thương,
Hằng ngày hằng phát đạt.
Khắp cả Đông, Tây, Nam, Bắc,
Mỗi việc mỗi khai quang.
Chúc đạo thánh kíp lán tràn,
Khắp Trung kỳ đặng qui nhứt hướng.
Chúc con dân hằng thạnh vượng,
Dầu bốn bể sánh tợ một nhà.
                               (P. T.)
       Đặc biệt chúng tôi sưu tầm đưa vào những bài thơ do Đức Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn sáng tác (lúc đó ngài chưa làm giám mục), nhân dịp ngài từ Huế lên Kontum dự lễ phong chức Đức Cha Jannin (Phước) vào ngày 23 tháng 6 năm 1933. Cha Hồ Ngọc Cẩn đã chuyển ý các bài ca tiếng Bahnar và tiếng Pháp sang các thể thơ bát ngôn và lục bát thật khéo léo và ý vị, góp thêm vào gia sản thơ Đạo trên miền Kontum (các bài thơ của Cha Hồ Ngọc Cẩn được trích từ báo “Nam Kỳ Địa Phận, số tháng 7.1935).

2. Thơ ca giáo lý, cầu nguyện, giảng dạy, khuyên răn:
       Đây là phần chủ lực, gồm những bài thơ diễn giải giáo lý, nguyện gẫm (xem bài: “Thánh Thể”, “Tháng Trái Tim Đức Chúa Giêsu”, “Lời cầu”, “Tháng Đức Bà”, “Tiến-ba ngâm”.v.v.) ; những lời cha mẹ dạy dỗ khuyên răn con cái, các Cha khuyên bảo quí chức và giáo hữu, thầy khuyên trò, bạn đồng lưu đàm đạo nhắc nhở nhau.v.v., thuộc nhiều đề tài như về đạo làm con, về hôn nhân gia đình, về cách đối nhân xử thế…(“Khuyên con gái lấy chồng”, “Khuyên học trò”, “Huấn tử ca”, “Dạy con ở cho có đức”.v.v.). Bài thơ cầu nguyện với Thánh Thể sau đây có âm điệu lạ lạ nhưng không kém phần trang nghiêm, sốt sắng:
Đức Chúa Giêsu chẳng tiếc chi,
Thiên đàng không nỡ bỏ ra đi,
Lập nên Thánh Thể phương linh nghi
Ở với nhơn dân chốn thảm bi.
Nhà tạm hẹp hòi đền thánh Chúa,
Ngọn đèn lu lít bạn tương tri,
Kể làm sao xiết lòng yêu mến,
Ngày đợi đêm trông chẳng chút ly.

                       ***
Lạy Chúa Ngôi Hai trong Thánh Thể,
Lòng thương trọn tính đành truyền để
Trước dưng phạt tạ Chúa trên trời,
Sau để dưỡng nuôi người dưới thế.
Muôn phước thiêng liêng những rộng ban,
Trăm đường sỉ nhục cùng không kể,
Xin cho kẻ dữ kíp ăn năn,
Giục những kẻ lành siêng chịu lễ.
                                                               (“Thánh Thể” – X.)

       3. Thơ tự sự, tả cảnh…
       Thơ đề tài này rất phong phú, gồm những lời tâm sự, tâm tình hoài hương, gợi nhắc kỷ niệm, ghi nhận cảm tưởng (“Gởi cho bạn ở Trung Châu”, “Nhớ”, “Nhớ cảnh”…; miêu tả sự việc, cảnh vật qua đó rút ra bài học luân lý (“Văn vần mồi chim”, “Cây trắc với cây lau”, “Chim mèo”…; “Cảnh hố Đangria”, “Vịnh mặt trăng”, “Trường Thừa sai”, “Nhìn phong cảnh nhớ người xưa”…) ; những ngẫm ngợi thế thái nhân tình  (“Cánh hoa tàn”, “Than già”, “Thơ rượu”.v.v.). Bao lâu còn cảnh chia lìa phân tán, còn những cảnh đời éo le đầy thử thách trên bước đường sống đức tin… thì những câu thơ như dưới đây vẫn khiến lòng ta rung động:
Nhớ người, người có cùng thương nhớ
Cái kiếp ba sinh những lạc lài.
                                                 (“Nhớ” – Xuân Thanh)

       Hay lời người anh dặn người em ở trên miền ngược:
Em ơi! Anh dặn thiết tha,
Đông qua xuân tới, về mà thương xuân.
                                       (“Nhớ cảnh” – L. Sáng Bạch)

       Người anh đã quá tế nhị và rộng lượng, không ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân mình: “về mà thương xuân” nói lên tình thương nhớ em của người anh thật bao la rộng lớn như đất trời mùa xuân!

       Hay trong những lúc gặp khó khăn thử thách, như nạn lụt mất mùa năm 1938:
Năm nay eo hẹp chi chi,
Mất mùa lại phải lắm kỳ nước dưng.
Nhiều nơi lúa trổ phải đưng,
Lớp thì đương gặt giữa chừng bị trôi.
Lớp thì rều rát đất bồi,
Hột rụng mất hết rạ ngồi không không.
Có nơi cắt chất ngoài đồng,
Mưa đạp không được nứt mầm xanh xao.
Từ khi lên đất Kontum,
Nay tôi mới thấy lụt trùm liên giây.
Con nhà nông vụ rồi đây,
Mang nghèo mang nợ biết xây ngỏ nào.
……………………
Thiệt là trăm chuyện trăm eo,
Năm nay giá lúa cũng trèo lên cao.
Một vuôn đã quá một hào,
Mà còn nát nẩm đất bao mốc xì…

Dù trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, lòng tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng luôn luôn được nhắc nhở, đề cao:
Cho sao tự đấng dựng gầy,
Cúi đầu vâng phục ý thầy mới nên.
                                     (“Lụt Lụt Lụt” – T. t. Thành)

     Có thể nói các tác phẩm thơ Đạo của các thế hệ tiên hiền ở Kontum, tuy không nhiều và không xuyên suốt qua các thời kỳ, nhưng cũng chuyên chở được những ý tứ sâu xa và văn phong đầy thi vị, từng là công cụ chuyển tải nội dung Tin Mừng đến cho các thế hệ con em. Những vần thơ này thường tự ẩn mình chìm khuất giữa dòng đời, rất dễ bị quên lãng, nhưng kỳ thực chúng rất đáng được trân trọng, sưu tầm và đọc lại, để hiểu thêm ngày xưa ông bà ta đã sống đức tin như thế nào. Tập “Kontum – vần thơ Đạo ngày ấy” này chỉ có ước nguyện nhỏ bé là thu thập một số các tác phẩm thơ ấy - 80 bài thơ với ý nghĩa kỷ niệm 80 năm tạp chí “Chức dịch Thơ tín” - là những bài thơ của chính các tác giả công giáo Kontum, hoặc thơ đạo viết về, viết cho Kontum - như một nghĩa cử tưởng niệm, tri ân những cống hiến của các bậc tiền bối cha anh trên nẻo đường sống và loan báo Tin Mừng. Cũng như tiền nhân khi xưa đã từng mang tâm tình tri ân ấy mà ghi vào thơ ca như một lời dặn dò:
Bỗng nhiên trực nhớ đến mình,
Còn mang ơn nặng vô tình bấy lâu.
                                           (“Nhìn phong cảnh nhớ người xưa”
                                                             Paul T. P. N.)         
                                                      
Và xin quý vị hết sức thông cảm và góp ý chân tình cho những thiếu sót không thể tránh khỏi trong quá trình sưu tầm, biên soạn.
                                                                                                               Kontum, tháng 4.2013
                                                                                                                        Lê Minh Sơn





CHÚ THÍCH:
[1] Thi ca Bahnar có nhiều và thường đặt theo lối trai gái tình tự, thổ lộ ra những tấm lòng nghê ngô chất phác. Bài hát của họ toàn đặt theo lối một câu có ba bốn tiếng, mà tiếng cuối cùng của câu trên gieo vần với tiếng thứ hai của câu dưới, đôi khi được gieo với tiếng đầu của câu dưới. Xem thêm: Thi ca Bahnar - Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, “Mọi Kontum”, NXB Mirador Huế 1937, tr.128-129.
[2] Tục ngữ Bahnar (De Bahnar pơtih) được chọn lọc đăng và giải nghĩa trên tạp chí Hlabar Tơbang bắt đầu từ số 4 năm 1911. Xem thêm bài ca thầy trò Trường Kuênot chúc mừng lễ Ngân Khánh Linh mục của Bok Phưk (Cha Jannin) in trong Hlabar Tơbang số 49 năm 1915, ở phụ lục Phần I .
[3] Đáng kể nhất là bài “Văn tế âm hồn ở Kontum” của quan Quản Đạo Võ Chuẩn trong tác phẩm “Kontum tỉnh chí” viết tháng 10/1933, in ở “Nam Phong tạp chí” số193, tháng1-2/1934. Ngoài ra có một vài bài thơ thấy nhắc tới và in lại trong ký sự “Ngục Kontum” của Lê Văn Hiến xuất bản ở Đà Nẵng năm 1938, nhưng những bài thơ này thường không xác định được thời gian và địa điểm sáng tác. 
[4] Tiếp nối “Chức dịch Thơ tín”, trong Địa phận Kontum xuất bản chuyên san “Les Échos de la Mission” (Dư Âm) từ năm 1941, nhà in Trường Kuênot-Kontum.

_________________________________
KONTUM - VẦN THƠ ĐẠO NGÀY ẤY...
(Sưu tập thơ ca Giáo phận Kontum thập niên 1930)
Biên soạn : Lê Minh Sơn
Lời giới thiệu : Nhà thơ Trăng Thập Tự
In tháng 04/2013
Lưu hành nội bộ
Liên hệ tác giả : Lê Minh Sơn
617 Nguyễn Huệ, Kontum - 0914028491

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét