Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012

TƯỢNG GIOAN PHAOLÔ II VÀ TỔNG THỐNG REAGAN


GDANSK, Ba Lan (AP) — Ngày 14-7-2012, các viên chức Ba Lan đã công bố bức tượng của cựu Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan và Đức cố GH Gioan Phaolô II để tưởng nhớ hai vị này đã tạo niềm tin cho đất nước Đông Âu này qua việc giúp làm sụp đổ chế độ cộng sản 23 năm trước.

Bức tượng này đặt tại Gdansk, nơi khai sinh Phong trào Đoàn kết Lech Walesa, trước sự hiện diện của 120 cựu thành viên hoạt độgn Phong trào Đoàn kết, nhiều người từng bị tù đày hồi thập niên 1980 vì đã tổ chức hoặc tham gia biểu tình chống chế độ cộng sản.



(Theo vietcatholic)

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

MỘT THOÁNG KỶ NIỆM KONTUM THỜI TRAI TRẺ




                                                                              Già Làng Y Chang 
Mỗi năm đến hè thì lòng thiên hạ man mác buồn chớ hai anh em tui cùng thằng Vẹn thì..."Ôi ! Tất cả mùa xuân trong mùa hạ". Từ Vũng Tàu, tụi tui đi xe đò lên Saigon, qua Ban Mê Thuột, ghé Pleiku rồi mới tới Kontum. Xe dzừa tới dốc Ông Mai (tên của quan mật thám khét tiếng đời Tây mà ai nghe đến cũng giựt mình, ổng bị lật xe chết tại đây nên dân chúng lấy tên cúng cơm của ông đặt cho con dốc nầy với sự biết ơn ...con dốc !) thì đã thấy nhà thờ Tân Hương rõ ràng từ tháp thánh giá xuống tới nền .Tui dám cá độ dứ bất cứ người dân Kontum nào xa quê lâu ngày khi dzìa tới dốc Ông Mai, nhìn thấy nhà thờ Tân Hương mà lòng không bồi hồi xúc động... Nhưng nay thì khác vì nhà lầu Hoàn Vũ của con cháu nhà văn Ngãi Luyền tức người bạn tên Petrus Nguyễn Lài đã "che khuất người thương, nóc giáo đường" (!). Quê hương tui đó. Nước Dakbla đâu có mặn xí xi nào. Đồng Ruộng Lào hổng có chua. Chỉ có trái me là chua lè chua lẹt.Mình ên nhà tui nghèo chớ làng tui thì khấm khá lắm.Năm đó nếu tui là gái thì tui "bẻ gãy sừng trâu" như chơi.Tui ở vào " tuổi biết buồn" mười bảy đó mà.
Một ngày đẹp trời, thằng Vẹn dẫn thằng Thay đến rủ tui lên nhà O Tròn chơi. (Tiếng Huệ thâm thúy thiệt, chữ O thì phải viết cho tròn chớ sao). Tui chưng hửng hỏi : -Chị Tròn con Bác Biện Nhị phải hông ? Thằng Thay trả lời bằng câu hỏi lại : -Chớ Tân Hương nầy có mấy Tròn ? Ai cũng mé... Tui chận họng nó liền : -Bữa nay tụi bay ăn trúng thứ gì mà trở chứng dzậy ? Thằng Vẹn hất hàm dzìa phía thằng Thay đáp : -Thằng Thay nó kết bà Tròn mà hổng dám đi một mình nên rủ tao dứ mầy đi làm "hậu thững". Mầy dạn miệng cũng nên đi để đỡ đòn giùm nó mỗi khi nó lẹo lưỡi nói cà lăm. Nó nhậu la de rầu đó ! Tui chưng hửng cái nữa khi thấy thắng Thay đưa ly lên miệng uống mà hổng có tí tẹo nước nào ở trỏng hết. Tui "nẹt" nó liền : -Mầy say rầu mà muốn lên trển quậy chị Tròn sao ? -Sức mấy mà say - Nó gân cổ cãi - Tao mới uống có một chai "bia trâu" thâu mà. Tao cần thiêm can đảm chớ bộ. Thằng Vẹn xía dzô : -Thiệt đó Sự. Nó có "nỗi niềm" khó nói. -Nó hổng nói sao mầy biết nó "mết" chị Tròn ? -Chắc là bia nói ! Thằng Vẹn trả lời kiểu "cà lơ xí xụi". Lúc đó thằng Thay nhìn tui bằng đôi mắt buồn dzời dzợi làm tui động lòng trắc ẩn liền nổi máu "nghĩa hiệp" : -Đi thì đi mà mầy phải để cái ly lại đây. -Tao cần nó phòng khi "hữu sự". Nó tủm tỉm cười. Chưa lúc nào thấy nó cưới dzô dziên như lúc nấy.
Tụi tui đến nhà chị Tròn vào xế trưa trời nắng "ui ui". Thuở thanh bình cửa thường bõ ngõ nên nhà chị Tròn mở "tàn hoạc" hổng có cửa để gõ ! Tui hỏi lớn : -Chị Tròn có ở nhà hông dzậy chị Tròn ? -Có...mà ai đó ? -Em...Sự đây. -Sự...Trung hả ? Dzô đi em. Chị ra liền. Hổng hiểu dzì cớ làm sao mà hể khi ai hỏi tên tui cũng kèm tên thằng em của tui theo sau mới dược ? Lại hổng biết chị Tròn dứ tui ai trộng tuổi hơn ai mà từ hầu nào tới giờ cứ chị chị em em ngọt xớt hà. Chị Tròn bước ra tươi cười : -Ủa có anh Vẹn, anh Thay nữa hả. Dzui quá há. Ngồi chơi. Ngồi chơi...Chị Tròn có thói quen lập lại lời mời hai lần.Chào khách xong, chị Tròn liền "te rẹt" quay dzô rầu trở ra dứ 3 ly nước mời : -Uống nước. Mời uống nước. Tui cảm ơn, cầm ly nhấm chút xí nước cho phải phép . Thằng Vẹn cũng làm như dzậy . Riêng thằng Thay thì " im ru bà rù " hổng nóitiếng nào chỉ nhìn chị Tròn đăm đăm. Quên nữa, tui dứ thằng Vẹn ngầu đâu mặt nhau. Thằng Thay thì ngầu đầu bàn phía ngoài quay lưng ra cửa. Còn chị Tròn chủ nhà thì ngầu đầu bàn phía trong. Khi nói chiện, chị Tròn day qua day lại hết tui rầu tới thằng Vẹn ; hết thằng Vẹn liền quay qua tui mà "quên lửng" thằng Thay ngầu "chình ình" ở giữa ! Có lẽ chị Tròn ớn cặp mắt "ngầu hầm" của nó mà đâm ra ngán ngược hổng dám nhìn mặt nó. Bỗng nhiên thằng Thay đưa cái ly nó đem theo lên miệng cắn cái rốp,nhai rạo rạo cho nhiễn rầu chụp ly nước nốc hết nuốt một cái ực ! Mắt nó nhìn chị Tròn thật là ướt át mơn trớn... Chị Tròn há hốc miệng kinh ngạc.Tui liền chồm qua chụp cái ly mẻ, xô ghế đứng dậy đi ra cửa sổ liệng cái ly thiệt mạnh.Cái ly bay qua đàng luồng rớt dzô chàm chè phe (vườn cà phê) nhà thờ Tân Hương. Liệng cái ly xong tui mới hú hồn hú dzía . Một người đẹp từ ngoài đàng cái quan Nguyễn Huệ lửng thửng đi dzô đàng luồng ! Giả tỉ tui chậm tay một xí thì chắc có chiện lớn rầu . Chỗ nào trên thân người nẩy lửa của nàng cũng hấp dẫn ...cái ly hết ! Nàng dzẫn dzô tìnhbước những bước nhún nhẩy dãy dụa...Tui quay đầu lại phía bàn thì thấy chị Tròn dzẫn chưa hoàn hồn đang lắp bắp : -Chơi cái gì dzị dzậy anh Thay ? -Chiện nhỏ thâu mà ! Nó cười đáp, mắt cứ chăm hẳm nhìn chị Tròn một cách tình tứ trong kiêu hãnh. Tui ngoắc chị Tròn lại hỏi nhỏ : -Ai mà "mẩy" quá dzậy ta ?-Thực đó. Hổng nhớ na ta ? Y chang "cẳng binh" Monica Hồ Thị Thực rầu. Con gái họ Hồ ai cũng đẹp. Có lẽ dzì dzậy mà Bồ Tùng Linh sáng tác tập truyện "Liêu Trai Chí Dị". Mới đó mà con nhỏ nhổ giò mau dễ sợ ! Nhà nàng ở ngay sau nhà chị Tròn, chỉ cách cái hàng rào lõi "cà chít" chớ hổng phải cái giậu mồng tơi xanh rờn. Nhà nàng quay mặt dzìa hướng chàm chè phe Trường Cố Mi Ca E. Tui cũng theo học trường nầy đến hết tiểu học mới gia nhập TSQ. Kế bên nhà Mônica Thực là nhà anh ba XE có dzợ tên là DÂY. Ngộ thiệt. Hổng biết nẫu lựa tên cho ăn khớp rầu mới làm đám cưới hay là do sự trùng hợp ngẫu nhiên ? Mà hổng lẽ tại tui tên SỰ mà chị Tròn kết hợp tui dứ THỰC cho "khít khao", cho "liền bân" tràn trề ý nghĩa như dzậy ? Sự + Thực nghe cũng "trúng cái lỗ tai" lắm chớ. Giả tỉ mà buồn buồn lật ngược lại cái thế Thực+Sự thì cũng quíu "hết ý" luôn !
Nhưng dzì tụi tui dư dziên mà thiếu nợ cho nên Thực-Sự đã hổng thành Sự-Thực !
Thời gian sau hổng lâu lắm, tui nhận được tin mừng là chị Tròn đã được anh Sơn rước dzìa ảnh viện Lê Thánh Tôn để làm "Siêu Mẫu". Đồng thời tui cũng có tin buồn (cho tui) là Mônica Thực đã có người "đưa em vào hạ" ở xóm trên gần "Mả Thánh".
Xin ghi lại mấy vần thơ sa mạc của tui dưới đây để thay lời kết cho một chuyện tình không đoạn cuối....
CHUYỆN ĐÃ QUA
Việc xảy ra đã xảy ra rồi
Tình chiêm bao chết yểu trong nôi
Thời gian chưa đủ cho hờn giỗi
Nước mắt không còn đủ mặn môi
Việc xảy ra đã xảy ra rồi
Vui buồn cũng là kỷ niệm thôi
Lúc xưa chưa kịp lời trăn trối
Nay vẫn nghẹn lời - Tôi trách tôi !
(Thơ nvs.)
GIÀ LÀNG Y CHANG
(Nguồn: Đồng Hương Kon Tum)

Ký ức Kon Tum :"ÔNG XÃ NGỌC "



ÔNG XÃ NGỌC
Đối diện nhà Bác Biện Nhị, phía bên kia đàng cái quan Nguyễn Huệ là nhà Ông Xã Ngọc. Đúng ra là Ông Phó Tổng Ngọc, chức quyền còn cao hơn Xã nhiều. Chỉ dưới có một người là Ông Chánh Tổng Hoàng mà trên hổng biết bao nhiêu người. Ông Phó Tổng Ngọc là cha ruột của anh Suy (cựu Chủ Sự Phòng Quân Vụ), người mà anh Cẩn khoái bắn bi chung từ lúc còn "tuổi đá dế" đó. ( Xin đọc Bác Biện Nhị vừa đăng).
Ông Phó Tổng Ngọc cũng là cha bỏ rửa tội của tui nữa. Sức mấy mà anh Cẩn biết được chiện nầy. Chị Tròn, con gái tròn trịa của Bác Biện Nhị thì biết một cách "ngon ơ chắc nụi". Theo "luật bất thành văn" của giáo dân Công Giáo Kontum thì con ruột của cha bỏ, mẹ bỏ ở bất cứ tuổi nào cũng là anh, là chị của con đỡ đầu. Anh Suy kiu Bác Biện Nhị bằng cha bỏ thì đương nhiên phải là em chị Tròn. Chắc lúc đó anh Cẩn hổng thấu rõ điều nầy nên mới xin được kiu Bác Biện Nhị bằng cha bỏ. Giả tỷ được "chấp thựng theo đơn xin" thì anh Cẩn "ô tô ma lắc" là em chị Tròn, mà cũng là "sư đệ" của tui dzì nhập môn sau tui xa lắc ! Chị Tròn nắm được "điều luật" nầy nên mới kiu tui là em ngọt xớt ngọt xơ như dzậy đó. Tui là em anh Suy mà anh Suy lại là em chị Tròn thì tui chạy đi đâu cho thoát kiếp nạn làm em của nẫu !
Hổng biết cha bỏ tui có mấy người con nữa. Tui chỉ nhớ có chị Ngọc là dzợ của Thầy Thông Ngân Khố -Ông Phó Tỉnh Trưởng Kontum Trần Bạch Thu chắc biết rõ- Thời điểm nầy chắc là Cậu Tư Chơi Lê Q. "Lép" nhà ta chưa vinh qui bái tổ nhậm chức Trưởng Ty Thuế Má đâu. Anh Suy cưới chi Hạnh con mợ Ấm là má của Cha Hậu và nàng tiên Marie Lý mà anh chàng Kiệt đã "bợ nhẹ" qua Paris từ lâu rồi. Hồi đó nhà tui và nhà mợ Ấm ở gấn thân quen nhau lắm. Anh Hấn đặc biệt có một lọn tóc trắng bằng 2 ngón tay từ trước trán ra sau giống như kiểu tóc "highlight" bi giờ, coi thiệt là "ngầu". Mấy người bạn của anh Hấn như anh A, anh Bản, anh Ngai...thì kiu là Hấn "xà cơn".Tui hổng hiểu nghĩa của chữ "xà cơn' là cái giống gì, chắc phải là "ngon lành" lắm dzì tui thấy anh Hấn thiệt bảnh trai. Mà "Xà Cơn" chắc là tiếng Tây quá !
Quốc lộ 14 - Đường ngang qua B15
Một hôm tui lên nhà cha bỏ chơi thì gặp anh Hấn từ trong sân đi ra. Tui lễ phép :
Chào anh Hấn...."xà cơn" !
Anh Hấn trợn trừng mắt nhìn tui giận dữ. Còn tui thì nhìn anh Hấn bằng cặp mắt sợ hãi mà hổng biết tại sao ảnh lại nổi "xung thiên" như dzậy. Bình thường ảnh "ôn hòa" dứ tui lắm mà. Nhưng anh Hấn thấy cái bản mặt ngây ngô của tui nên đã hiểu rằng tui hổng biết "xà cơn" là gì liền dịu gọng hỏi :
-Ai bày em nói dzậy ? -Thì mấy người bạn của anh là anh A, anh Bản, anh Ngai...kiu anh như dzậy đó.
Anh Hấn day mặt qua phía khác nói lớn "Xà Lù" rầu day lại nhỏ nhẹ biểu tui :
-Em dzô nhà chơi đi. Mẹ bỏ đang làm "bánh thửng" ở trỏng.
Tui mừng húm, mừng hết lớn dzì "tai qua nạn khỏi" liền chạy u một mạch tới "cung lơn" - tức là cầu thang.... Trên đường dzìa nhà, tui suy nghĩ lung lắm liền nhớ ra là những hòn bi chai bị sờn mẻ kiu là "bi xà cơn" ! Loại gạo có màu trắng trắng đỏ đỏ thì kiu là "gạo xà cơn"... !
Dzừa tới nhà tui liền hỏi mẹ : -
"Bi xà cơn", "gạo xà cơn", còn cái gì "xà cơn" nữa hông mẹ ?
Mẹ tui trả lời thiệt mau mắn : -"Heo xà cơn" !
Thâu chết cha mồ tổ rầu ! Miệng tui tự động phát âm tiếng Kinh bằng giọng Thượng : "Chắc chết khoong khoong quá" ! Hèn chi anh Hấn muốn nổi "tam bành" dứ tui. Có lẽ anh Hấn nói "Xà Lù" để đối dứ chữ "Xà Cơn" cho phải điệu. Mà tui hổng biết "Xà Lù" là tiếng Tây, tiếng Bà Na hay tiếng Chà Rài nữa. Nhưng tui "chắc mẳm" là nó hổng hay ho gì đâu nên tui biết thân biết phận đành "sống để bụng, chết mang theo" chớ hổng dám mở miệng nói ra. Tui cũng hổng dám hỏi con đầm nhí Agnès nữa.
"Xà Lù" ơi ! "Xà Cơn" ơi ! Xin giã biệt mấy "cha nội"!
Thời đó người ta hay có thói quen lấy tên con đầu lòng để kiu người cha. Dzí dụ như Ông Chánh Tổng Hoàng, Ông Phó Tổng Ngọc...cho nên tới bi giờ tui cũng hổn biết tên thiệt của cha bỏ tui là gì nữa. Tên của Bác Biện Nhị tui cũng "bù trớt" luôn ! Nghĩ cũng lạ, "Biện" thì dùng tên con để kiu mà "Thầy" thì kiu thẳng thừng tên cúng cơm người ta như Thầy Thanh, Thầy Nhàn, Thầy Cúc....chẳng hạn.
Có chiện dzui nầy mà ít người biết lắm nè. Số là em thằng Lài tên là Đây, lúc chưa thụ phong Linh Mục, ổng đã đổi tên là Đăng tức Thầy Đăng ! (Cấm đọc lái à nghen). Như dzậy tên của ổng là " Vũ Như Cẩn " (tên này đọc lái thoải mái ). Thêm nữa, khi Cha Đây ra Cam Ranh để dâng thánh lễ thì tình cờ gặp chị Lạc ở khuôn viên nhà thờ.
Cha Đây chưa kịp thay áo lễ nên chị Lạc hỏi :
-Chớ mầy đi đâu đây dzậy Đây ? -
Tao ra đây để làm lễ chớ đi đâu.
Chị Lạc nghe "ba chớp ba nháng" nên "lí lắc" nói tiếp :
-Đứng đây nói chiện dứ tao chút xí đi mầy. Cha chưa tới mà Đây !
Biết là chị Lạc hổng ngờ mình đã làm cha nhà thờ nên Cha Đây nói nhỏ :
-Thì tao là cha đây chớ còn cha nào nữa mà mầy chờ !
Chị Lạc là con cô Hai Khen của tui. Cha Đây là em thằng Lài (con Ông Hương Dịch Nghị). Hai người từng ở sát vách nhau. Xưng "Tao" kiu "Mầy" lia chia, nhưng chị Lạc "đi lạc" lâu ngày nên "thất lạc" mất chiện Cha Đây đã làm linh mục ....mới ra cớ sự.
GIÀ LÀNG Y CHANG
(Nguồn: donghuongkontum.com)

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

QUÀ TẶNG CỦA THÁNH THẦN






SGTT.VN - Khi Prometheus lên trời đánh cắp lửa và tài khéo kỹ thuật về cho con người để con người làm chủ thiên nhiên và muôn loài, do quá vội vã (ăn trộm lúc nào cũng vội vã!), Prometheus không kịp đánh cắp thêm một thứ quan trọng! Thiếu thứ này, con người, với tài năng kỹ thuật, tha hồ chém giết nhau.
Kỹ thuật là cách để con người tìm lại cảnh nhàn nhã trước khi bị trục xuất khỏi vườn địa đàng – tranh Lucas Cranach.
Thương hại trước khả năng tự huỷ diệt của loài người, thần Zeus đành ban tặng nốt món quà quý ấy cho con người: lương tâm và ý thức về công lý. Như thế, theo tinh thần câu chuyện thần thoại được Plato kể lại, câu hỏi về giới hạn của kỹ thuật đã sớm được đặt ra khi con người biết xấu hổ về luân lý và thấy cần có những chuẩn mực cho đời sống chung.
“Biết” chưa hẳn là “hiểu”, là “gặp”
Ta sử dụng nhiều sản phẩm kỹ thuật nhưng không phải ai cũng biết rõ về cơ sở khoa học của chúng. Tuy nhiên, “mù khoa học” là chuyện của mỗi cá nhân, chứ nhìn chung, tri thức khoa học gia tăng không ngừng.
Tiếc rằng, “biết” không hẳn là “hiểu”, giống như ta có thể biết rất nhiều về một con người, nhưng vẫn không “hiểu”, càng không chắc đã “gặp gỡ” được người ấy. Càng làm chủ thiên nhiên, càng nâng cao năng lực kháng cự và phòng vệ, con người càng khao khát thiên nhiên. Trước tác động “cào bằng” của kỹ thuật (ngôn ngữ triết học gọi là “đánh mất thực thể”), thiên nhiên đáng mong ước ấy đang bị dồn vào một góc: những vườn quốc gia, những khu bảo tồn thiên nhiên bị rào kín không khác một sở thú! Mỉa mai của sự tha hoá, tức của việc “nhìn nhau xa lạ”, đã đạt tới cao điểm: thiên nhiên mà con người muốn “nhân hoá”, “hoà giải” (Marx) suy tàn ngay trong tiến trình nhân hoá, hoà giải. Hai mặt biện chứng hầu như khó bề tái hợp: vừa không được kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, vừa đồng thời không được “khinh rẻ và hạ nhục thiên nhiên trong thực tiễn” (Marx, 1883).
Thêm nữa, một cách hành xử “không tha hoá” với thiên nhiên cũng tỏ ra khá hàm hồ. Tình hình sẽ ra sao đối với lao động vất vả ở nông thôn và ở các nước chậm phát triển khi sự “tha hoá khỏi tự nhiên” nhiều khi lại là điều cần thiết và được khuyến khích? Dường như, sau khi bị “trục xuất khỏi vườn địa đàng”, con người không có lựa chọn nào khác ngoài nỗ lực khôi phục tình trạng lao động nhàn nhã đã mất: đẩy mạnh và ngày càng hoàn thiện kỹ thuật! Nhưng, tiến bộ kỹ thuật có thực sự là một sự tiến bộ?
Lưỡng tính của tiến bộ kỹ thuật
Ngày nay, không ai còn quá tin vào chủ nghĩa lạc quan kỹ trị. Tiến bộ kỹ thuật không phải bao giờ cũng nhất thiết là một sự tiến bộ, điều ấy là hiển nhiên và cũng đầy nghịch lý. Một mặt, tiến bộ kỹ thuật là hình mẫu của sự tiến bộ nói chung: nhờ có kỹ thuật mới, mục đích được đề ra sẽ đạt được trọn vẹn hơn, nhanh hơn, ít tốn kém hơn. Mặt khác, từ “tiến bộ” (cũng như “phát triển”, “tiến hoá”…) bao giờ cũng giả định một đánh giá tích cực. Thế nhưng, sự hoàn hảo trong kỹ thuật chiến tranh hay đàn áp, kỹ thuật nghe lén hay đánh cắp… khó có thể gọi là “tiến bộ” đích thực!
“Tiến bộ” đúng là lưỡng tính. Một mặt, chỉ được đánh giá là tiến bộ khi quy chiếu với một mục tiêu hay một thước đo nhất định. Bánh xe thường được xem là mẫu mực để đo lường sự tiến bộ. Nhưng văn minh vùng sông Nile xem thuyền bè mới là tiêu chuẩn chứ không phải bánh xe như ở Hy–La hay Trung Hoa cổ đại. Mặt khác, các tiến bộ kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức không tất yếu trùng hợp nhau. Trong việc đánh giá tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến bộ kỹ thuật giữ vai trò đặc biệt. Chỉ đơn thuần là phương tiện, bản thân tiến bộ kỹ thuật không phải là một loại tiến bộ riêng biệt mà chỉ nhằm tăng cường tính hiệu quả cho việc thực hiện các mục đích khác vốn đích thực là những giá trị, chẳng hạn: sự sống, sức khoẻ, sự an toàn, hạnh phúc, chất lượng môi trường, đạo đức, công lý hay sở thích tốt đẹp.
Hy vọng của những nhà lạc quan kỹ thuật đang bị thực tế thách thức gay gắt. Những thành tựu to lớn của tiến bộ kỹ thuật đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế giới là không thể phủ nhận. Năng suất kinh tế và hiệu quả kỹ thuật song hành với các yếu tố khách quan của chất lượng sống: tuổi thọ, sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, không gian hoạt động độc lập với nhịp điệu và cả sự bất trắc của tự nhiên. Nhưng những cải thiện kỹ thuật ấy có thể chỉ mới phục vụ và sinh lợi cho một bộ phận dân cư trong một nước hay cho một nhóm nước trong phạm vi thế giới. Nghèo đói, thất học, tội ác và nhiều tệ nạn do sự bất bình đẳng sinh ra chưa hề giảm bớt mà có xu hướng tăng lên.
Chỉ đơn thuần là phương tiện, bản thân tiến bộ kỹ thuật không phải là một loại tiến bộ riêng biệt mà chỉ nhằm tăng cường tính hiệu quả cho việc thực hiện các mục đích khác vốn đích thực là những giá trị, chẳng hạn: sự sống, sức khoẻ, sự an toàn, hạnh phúc, chất lượng môi trường, đạo đức, công lý hay sở thích tốt đẹp.
Ngày càng nhiều người nhận định rằng kỹ thuật là một loại ma tuý giúp xoa dịu và ngăn ngừa những thảm hoạ nhỏ, nhưng lại làm gia tốc các thảm hoạ lớn. Bởi kỹ thuật có thể giải quyết nhiều vấn đề, nên người ta dễ dàng tin rằng sớm muộn nó sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Tất nhiên, lòng tin vào kỹ thuật không phải là lòng tin mù quáng hay hão huyền, Trong nhiều lĩnh vực, quả thật kỹ thuật không chỉ giải quyết được những vấn đề của lĩnh vực khác, mà cả những vấn đề do chính nó gây ra. Nó có thể phòng tránh, xử lý hay ít ra là giảm nhẹ những thiệt hại và nguy cơ do mình là thủ phạm bằng các công nghệ sửa chữa hay thay thế nguồn gây nguy cơ. Tuy nhiên, điều này không chỉ ngốn số chi phí khổng lồ mà còn đòi hỏi phải có đội ngũ lãnh đạo có ý thức trách nhiệm cao độ và đội ngũ kỹ thuật viên thông thạo, nhất là trong các lĩnh vực phức tạp và có nguy cơ cao như hạt nhân, khai khoáng, chế tạo vũ khí… Trong khi đó, những thách thức có quy mô toàn cầu như kiểm soát sự gia tăng dân số, dành tài nguyên cho các thế hệ sau, ngăn cản sự biến đổi khí hậu, bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm và nước sạch trong lâu dài… cho thấy rõ rằng sự cải thiện kỹ thuật không thể thay thế cho việc thay đổi quan niệm phát triển và cung cách hành xử một cách căn bản.
“Tạo hoá quyền”
Chứng kiến thành tựu kỹ thuật của phương Tây, cụ Phan Thanh Giản, trong một lần đi sứ, có câu nổi tiếng:
Bá ban xảo diệu tề thiên địa
Duy hữu tử sinh tạo hoá quyền
Nhưng, với mỗi bước tiến bộ ngoạn mục của y học, sự sẵn sàng chấp nhận và chịu đựng số phận tự nhiên – sinh, già, bệnh, chết – ngày càng giảm dần, và con người lại trải nghiệm những “hoàn cảnh giới hạn” (Karl Jaspers) ấy như những cú sốc! Con người trong tương lai thậm chí có còn chấp nhận “quyền lực của tạo hoá” hay không là điều không dự đoán được. Hy vọng chăng là con người không dại dột từ chối nốt “quà tặng của thánh thần” để biết đặt ra cho chính mình câu hỏi về trách nhiệm!
BÙI VĂN NAM SƠN

MỘT TRANG THẢM SỬ HAY LÀ LÒNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI XƯA




Di tích lăng "Tử Đạo" Gia Hựu hiện nay

Báo “Lời Thăm”, Địa phận Qui Nhơn,
số 44, Thứ Năm, 13 Nov. 1941

Huỳnh Tảo

Trong những ngày an tịnh đời nay, giáo nhơn cũng như người thiên hạ, mãi miết cuộc sanh tồn, kẻ lo kinh doanh sự đời, người lo kiếm miếng cơm nuôi mình, vậy mà vẫn nhớ và biết việc xưa dữ lắm.
Trước nhà thờ Gia Hựu, một sở đạo lớn trong địa phận Qui Nhơn, có một ngôi mộ to, xây đắp công phu, xem đã cổ, người ta kêu lăng “Tử Đạo”. Một lần đi ngang qua đó, tôi tò mò hỏi thăm, thời một người trong địa sở, người coi còn trai trẻ, mà thuộc chuyện xưa nằm lòng, kể đầu đuôi, tôi nghe lấy làm hay lắm, xin đem hiến bạn đọc một chuyện tử đạo chưa ấn hành, coi cho biết, cũng là chuyện có ích.
Kêu lăng “Tử Đạo” vì là cái mồ chung chôn hài cốt các bổn đạo ông bà chúng tôi bị năm “Văn Thân”, ấy là năm 1885. Năm ấy, nửa tháng 7 tây, ngoài Quảng Ngãi “Văn Thân” dậy, giết đạo, đốt nhà, lấy của, đông lắm. Có người ngã Trà Câu trốn vô đưa tin tai nạn. Thôi, ông bà chúng tôi đều kinh hãi bàng hoàng, tin chắc sao cũng tới mình. Tin dữ ấy bay ra, người nào cũng thất thần, đùm đệ đem nhau rút thảy hết, chiu chít với nhau trong khuôn viên nhà thờ đó.
Cách mươi hôm, không biết ở đâu mà “Văn Thân” giáo, mác, họ kéo tới đông vô cùng, vây hết ngoài vòng nhà thờ. Ban đầu, ông bà chúng tôi quyết cự. Mà tình cảnh hiểm nguy: xung quanh thành quách không có, có mấy bờ tre với hàng rào cây lếu láo; trong vòng có tới 2.000 người; phải chi được từng ấy người tráng lực hết, thì nói gì; cái này hơn hai phần là đàn bà, con nít. Hai phần này để mà than với khóc thì được, chớ nói võ bị thì không. Hễ ở ngoài người ta “hê!”, trong vòng người tráng lực cầm giáo sao chực tống ra, ở giữa thì họ khóc kể, ngó thảm thiết lắm, không ra chỗ chiến trường.
Chịu đựng được ít ngày, một đêm bên nghịch phóng lửa đốt mất một mặt rào. Khi ấy Cố Bửu (P. Geffroy) chánh sở, đang ở ngoài kinh, ở nhà có Cố Dupont, còn mới và Cha Nhứt. Các chức nhắm bề kháng không kham, bàn tính với hai ngài, xin lo rút đi vô Qui Nhơn, chớ tình hình ngõ hiểm nghèo, e phải chết chùm không sót một người.
Hai cha thấy tình thế, thì ưng phê ý ấy, mới ra lịch thôi kháng, sửa rút vô Qui Nhơn. Mọi người kéo hết vô nhà thờ chịu phép giải tội chung. Rồi 2.000 con người cả nam, phụ, lão, ấu nheo nhóc kéo ra đi. Thiệt là một đám kiệu cả thể, những người tráng lực, lớp cản hậu, lớp diện tiền, đàn bà, con nít, lão nhược đi giữa, cả tiếng lần hột đọc kinh dậy đàng. Không biết bên “Văn Thân” họ thấy bên này gan quá là họ sợ, hay là họ mắc hôi của mà quên đuổi đánh. Bên ông bà chúng tôi cứ vậy đi miết tới trong gò Hội Đức, xa đây 15 cây số, tưởng là thoát được bình an.
Ai dè qua khỏi dốc Hội Đức, bên kia thôi người ta thiên vạn, giáo, mác lớp thấp lớp cao nghiêng qua ngã lại hằng hà như một rừng cây, trống giục, còi ru, mõ khắc, lịnh troan, inh ỏi một góc trời. Ôi thôi! Ông bà chúng tôi rụng rời tay chơn, tấn thối cái nào cũng khó bề. Bấy giờ Cố Dupont mới giảng khuyên mọi người mạnh gan dung mạng mình làm của lễ Chúa. Ngài khuyên lơn an ủi chung mọi người bảo xem gương Cha, rồi ngài bước tới bước xa quỳ gối chắp tay, ngửa mặt lên trời cầu nguyện, tỏ dấu nạp mình chịu tử đạo. Đảng “Văn Thân” thấy vậy họ tuôn tới, chém Cha chết tại chỗ.
Thấy đầu Cha rơi xuống, bên ông bà chúng tôi thảm thương, tiếng khóc dội đất, mọi người bắt chước Cha quỳ gối sắp lớp giữa đàng chực chết. Cả ngày quân dữ gươm trần giáo nhọn kẻ chém người đâm, ông bà chúng tôi đầu rơi, máu chảy, đoàn trước đoàn sau, tiếng rên tiếng khóc vang trời, ước quỷ thần cũng cảm động, mà quân dữ dững dưng tận sát hết mọi người tới nửa đêm mới thôi. Xong rồi xúm nhau, kiếm của, áo xiêm gì nó cũng lột tuốt hết, bỏ nằm trần ngỗn ngang chồng chất trên đàng vậy tới hai ngày. Cách hai ngày, phủ Bồng Sơn mới sức đào hầm hai bên đàng đem giập xuống đó.
Kinh hoàng! 2.000 người ra đi không còn sót một người!
Cách hai năm, chừng yên đâu đó, Cố Bửu về, ngài mới xây lăng kỹ lưỡng như thấy đó, hốt hết mấy cái hầm nói trên cho vào quách đóng hẵn hoi đem về tang.
Vậy đó mà chúng tôi ngày nay gọi là lăng “Tử Đạo”.
Tính ra trước giặc “Văn Thân”, bổn đạo cả miền Bồng Sơn chúng tôi là 3.000, giặc về rồi còn có 700. Quá sức! 

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

NƯỚC NHÀ GẶP NHIỄU SỰ, DÂN CÒN GIÚP NHÀ NƯỚC?




BAODATVIET:5:22 PM, 09/06/2012
Nước nhà gặp nhiễu sự, dân còn giúp Nhà nước?
Xin giới thiệu bài phát biểu của ông Dương Trung Quốc, nhà sử học, trước Quốc Hội ngày 07.06.2012.
Dương Trung Quốc: Vào thời điểm này khi nhiễu sự liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử oai hùng của chúng ta không?
Dưới đây là nội dung bài phát biểu:

Kính thưa Quốc hội,
Tôi không nhắc lại nhiều ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội phát biểu trước tôi để đồng tình với một số đánh giá tích cực trong hoạt động của Chính phủ thể hiện trong báo cáo. Tôi muốn tiếp cận từ cách nhìn khác.
Qua năm tháng tham gia Quốc hội, tôi nghiệm thấy một Quốc hội như thế nào sẽ có một Chính phủ như thế đó, phương thức hoạt động của Quốc hội là nửa năm triệu tập một kỳ họp nghe bản báo cáo với nội dung chủ yếu là nhìn lại 6 tháng vừa qua, hướng tới mục tiêu 6 tháng tiếp theo. 

Thời điểm cuối tháng 5, cuối tháng 10 mỗi năm thật lỡ dở để có dịp nhìn lại trọn vẹn từng năm, cứ tập trung vào bản báo cáo 6 tháng 1 lần khó có thể nhận dạng bức tranh toàn cảnh của đất nước. 

Với tầm nhìn mỗi nửa năm ấy, bản Báo cáo của Chính phủ chỉ nêu lên việc đã làm như những thành tựu đã đạt được, đưa ra một số sai sót yếu kém gắn với những vấn đề nổi cộm dư luận đang quan tâm và đưa ra những giải pháp thường là ngắn hạn, ít mới mẻ.

Để ngắm bức tranh toàn cảnh cần có độ lùi về không gian và thời gian, hoàn cảnh cho tôi đến nay đã được dự khoảng 20 phiên, đọc chừng 20 bản Báo cáo của Chính phủ, bằng cảm quan nghề nghiệp của mình nhận ra cái mạnh, cái chưa mạnh của Chính phủ, mạnh nhất của Chính phủ là khả năng ứng biến, năng lực giải quyết tình huống. 

Phải chăng đây là sự kế thừa của truyền thống hình thành trong thời chiến. Năng lực ấy đã phát huy tác dụng tích cực khi chúng ta thực hiện mục tiêu chính nghĩa, một đường lối đúng đắn có sự hậu thuẫn về ý chí của toàn dân, lại có tầm nhìn sáng suốt của người đứng đầu. 
..."thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một số tập đoàn như Vinashin, Vinaline thì có ai mà không xót ruột"...

Cái mạnh ấy đã giúp Chính phủ cứ 6 tháng một lần lại vượt qua được những thử thách của thực tiễn, đạt được những mục tiêu ngắn hạn và cũng vượt qua được một kỳ họp cũng là một kỳ chất vấn của Quốc hội để rồi lại dấn thân phấn đấu cho 6 tháng tiếp theo. Vì thế những thành tựu ấy khó bền vững và những khuyết điểm yếu kém của Chính phủ luôn lặp lại gần như là một điệp khúc không mấy thay đổi qua các bản báo cáo.
Nói như vậy tôi hoàn toàn không phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ, các thành viên của Chính phủ và bộ máy của Chính phủ, cũng như chia sẻ những khó khăn khách quan mà cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền rất phức tạp mà Chính phủ phải gánh vác. 

Nói như vậy cũng không có nghĩa là xem thường năng lực ứng phó và giải pháp tình huống nhưng chỉ như vậy thì không đủ. Bởi vì nếu cứ tiếp tục như thế này thì mãi mãi chúng ta không thể theo kịp những yêu cầu ngày càng khắt khe của sự phát triển bền vững, cũng như hội nhập với thế giới đang cạnh tranh quyết liệt và đầy những biến động rủi ro. 

Hơn thế nó cũng không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.
Kính thưa Quốc hội,
Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô và mang nội hàm về không gian to lớn lẫn thời gian lâu dài. Ta có thể đặt ra những câu hỏi vì sao đất nước đã hòa bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số 1 hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị.
Vì sao trên lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất, trong đó đặt vai trò là động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất. Để nhắc đến một thương hiệu hay một sản phẩm công nghiệp đáng để cho thế giới biết đến thì dường như chưa có còn nhắc đến con số như thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một số tập đoàn như Vinashin, Vinaline thì có ai mà không xót ruột.
 ..."đối với dân chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với bộ phận nhân dân"...
Trong khi đó như chúng ta vừa thảo luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thì chính những người nông dân, ngư dân vốn ít được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, thậm chí phải chịu đựng nhiều rủi ro không chỉ của thiên tai mà của cả môt số sai sót trong điều hành của Chính phủ lại làm nên những thành tựu, những thương hiệu hơn hẳn công nghiệp trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thực tiễn đã vượt qua sự chủ động trong tầm nhìn và tầm tay quản lý của Chính phủ.

Một ví dụ nữa, đội ngũ cán bộ, công chức được tuyển chọn, đào tạo trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoa học về quốc phòng toàn dân mà vẫn để hiện tượng sử dụng lao động người nước ngoài, cho thuê đất rừng hay khai thác khoáng sản và gần đây nhất là nuôi hải sản ngay tại những vị trí trọng yếu an ninh quốc gia đều vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước.

Nhìn vào bản đồ quốc gia, chúng ta sẽ thấy không ít sự bất hợp lý và lãng phí, hệ quả của mối quan hệ giữa Chính phủ Trung ương và các chính quyền địa phương bị chi phối bởi tầm nhìn của bộ, cũng như sự thỏa hiệp của mối quan hệ xin, cho. Tôi nhấn mạnh mối quan hệ xin, cho đang ngày càng trầm trọng và gây tác hại lớn nhất cho điều hành đất nước, phá hoại những giá trị xã hội tạo nên hiện tượng đáng quan ngại không chỉ là những vụ tham nhũng và thất thoát lớn đã được phát hiện hay không thể phát hiện mà còn là hiện tượng đã được thừa nhận là tham nhũng vặt.

Trong khi đó, đối với dân chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với bộ phận nhân dân làm phương hại đến hình ảnh của một Nhà nước của dân, do dân vì dân mà chúng ta đang phấn đấu. Chỉ số lòng tin đối với Chính phủ chưa khi nào được quan tâm tính đến, nhưng chắc chắn không như chúng ta mong muốn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực lắng nghe của Chính phủ.

Nhìn lại một chặng đường dài, thời gian dài hơn mỗi kỳ họp, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề đã được cảnh báo đến từ phát biểu của các nhà khoa học hay hoạt động xã hội trong đó có những đại biểu Quốc hội từ rất nhiều cuộc hội thảo về đề tài nghiên cứu v.v... mà Chính phủ chậm tiếp thu để rồi thực tiễn chứng minh những lời cảnh báo đó đã trở thành hiện thực. Năng lực lắng nghe bị hạn chế, phải chăng do Chính phủ chưa tin vào dân, vào những người không nằm trong bộ máy tư vấn gần gũi của Chính phủ liệu có phải là lợi ích nhóm hay không?
"đội ngũ cán bộ, công chức được tuyển chọn, đào tạo trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoa học về quốc phòng toàn dân mà vẫn để hiện tượng... vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước"

Trong những hạn chế của Chính phủ đó có trách nhiệm của Quốc hội, vì sao khi thảo luận về Luật phòng, chống tham nhũng nhiều vị đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội đã can rằng không nên giao trách nhiệm đứng đầu cơ quan này cho cơ quan hành pháp, thế mà chính Quốc hội chúng ta lại thông qua luật để tới nay lại phải sửa lại. 

Vì sao từ nhiệm kỳ trước Quốc hội, tôi đã thấy các vị đại biểu nêu lên sự cần thiết phải xây dựng luật nhằm quản lý và phát huy vốn của Nhà nước, Quốc hội vẫn chưa tiếp thu. Vì sao khi xảy ra những vụ việc như Tiên Lãng - Hải Phòng, Văn Giang - Hưng Yên chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc. Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc nuôi cá ngay địa bàn quân sự Cam Ranh, người phát hiện chỉ là báo chí. Tất cả các bản Báo cáo ngân sách Chính phủ trình Quốc hội đều cho qua thì sự thất thoát ngân sách lớn như thế có trách nhiệm của Quốc hội không?

Khi nói đến Quốc hội, tôi cũng ý thức được rằng trong đó có cả chính mình. Từ những ý kiến trên, tôi kiến nghị các bản Báo cáo mỗi kỳ họp của Quốc hội, của Chính phủ ngoài phần báo cáo như cách viết hiện nay, Quốc hội cần hướng việc giám sát vào những vấn đề nổi bật gắn với tầm điều hành vĩ mô của Chính phủ để thấy những tiến bộ của Chính phủ sau mỗi kỳ họp thông qua đánh giá việc thực hiện những mục tiêu lớn và dài hạn.

Cuối cùng, tôi xin nhắc lại lời của người xưa đúc kết về thuật trị nước, đó là câu đối thời hậu Lê Hoàng Ngũ Phúc và một thời kỳ lịch sử rối ren ông đã nhắc nhở: "Nước lấy dân làm gốc, nước bình yên, nước hãy để dân yên. Dân lấy nước làm lòng, khi nhiễu sự dân ra gánh vác". Thử đặt ra một câu hỏi vào thời điểm này khi nhiễu sự liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử oai hùng của chúng ta không? Đặt câu hỏi đó Chính phủ sẽ thấy nhiều việc cần phải làm. 
Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.
Tuấn Linh thực hiện