Khánh thành đài kỷ niệm cha Alexandre de Rhodes (29/5/1941):
Thưa các quý quan, các thân hào và chư vị,
Thể ý quan Thống sứ và để biểu minh cái đặc điểm buổi họp hôm nay – một buổi họp lấy sự Pháp Việt đề huề, quốc dân hợp nhất làm tiêu chuẩn, một buổi họp truy tặng chữ Quốc ngữ - tôi xin lược thuật tiểu sử cha Alexandre De Rhodes bằng tiếng Quốc âm.
Cha Alexandre De Rhodes là một người đặc biệt hoạt động. Ít gặp thấy những tấm
gương sinh hoạt đầy đủ tột bậc như thế.
Nhưng muốn hiểu rõ cuộc đời của cha, cần phải có một cái quan
niệm ít là lờ mờ về tinh thần vị tông đồ trong đạo Công giáo. Đối với Công
giáo, không gì sung sướng cho bằng được nghe tiếng Thiên Chúa gọi đi hướng dẫn
linh hồn nhân loại đưa về cùng Thiên Chúa. Các ngài khó tưởng tượng cho thấu
cái hân hoan phúc lạc các tông đồ, khi đem nhiều linh hồn vào chính đàng Công
giáo. Tại đâu mà dù bị gian nan bắt bớ, dù phải vất vả lót đời, dù bị đày đuổi
ngục từ, dù phải kìm khảo chém giết, thì vị tông đồ cũng cứ một lòng vàng đá hy
sinh? Chẳng qua là vì chân lý và đạo người giảng là chân chính và ngay thật vô
cùng, nên mới có sức làm cho người thí thân cho đạt thành mục
đích. Có đem cuộc đời cha Alexandre De Rhodes đặt dưới những quan niệm ấy, ta
mới hiểu được những nỗi hy sinh của ngài.
Cha De Rhodes đã cất tiếng chào đời tại Avignon ngày 15 Mars
1591. Ngài từ biệt gia đình sang Roma năm 1612, vào tu trong Dòng Tên, tức Dòng
Đức Chúa Giêsu (Jésuite). Chọn làm thầy Dòng Tên, là vì ngài muốn hiến thân đi
giảng đạo ở các nước ngoại giáo phương Đông. Sáu năm tu luyện thành tài, vào
năm 1618, ngài thụ phong linh mục. Tháng Octobre, ngài bỏ Roma về qua Avignon
thăm gia đình, đoạn theo đường bộ tới Lisbonne đáp tầu sang Viễn Đông hồi năm
1619. Hết ba tháng mới tới mỏm đất Bonne Espérance[1],
và mãi sáu tháng ròng rã mới đặt chân xuống đất thành Goa bên Ấn Độ. Cuộc hành
trình lâu dài vất vả làm cho ngài kiệt sức và sinh bệnh, cần phải nghỉ lại ít
tháng điều dưỡng. Rồi đáp tầu đi Malacca, sau cùng tới Macao ngày 29 tháng Mai
năm 1623: tính ra từ khi bỏ Âu Châu cho tới nay vừa chẵn bốn năm rưỡi trời.
Chủ ý ngài sang Viễn Đông là giảng đạo cho nước Nhật. Không may
nhằm lúc có lệnh nghiêm cấm các nhà truyền giáo không được vào nước Mặt Trời
Mọc, nên ngài lưu lại Macao. Và một năm sau, vào cuối năm 1624, ngài được lệnh
sang Việt Nam giúp các vị giảng đạo được kết quả rất nhiều ở Đàng Trong. Ngài
cùng với mấy bạn đồng liêu bước vào đất Việt Nam tại tỉnh Cham, tức là Quảng
Nam bây giờ, phỏng là Cửa Hàn, hay chắc hơn là ở Faifo, vì Faifo khi ấy là một
thị trường lớn người Nam giao thiệp, thông thương với ngoại quốc.
Ở Đàng Trong đọ một năm rưỡi, ngài được lệnh ra Đàng Ngoài, vì
các vị thừa sai Đàng Ngoài cần một cha nói thạo tiếng Nam. Ngài về qua Macao
rồi mới sang Bắc Kỳ. Ngày 19 Mars 1627, ngài tới Cửa Bạng thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Ngài được chúa Trịnh Tráng tiếp rước lịch sự và hậu đãi tận tình. Nhưng năm
1629 bị chúa ra lệnh trục xuất. Ngài trở vào Đàng Trong giảng đạo ở miền Bắc
tỉnh Quảng Bình. Tới năm 1630, ngài trở về Macao dạy khoa thần học độ 10 năm,
và đồng thời giảng đạo cho các thành lân cận xuống đến Quảng Đông. Năm 1640 lại
được lệnh sang Đàng Trong, nhưng bị quan Tổng đốc tỉnh Cham trục xuất, ngài
phải lộn về Macao. Vẫn không ngã lòng, cách ít tháng, ngài lại đáp tầu sang
Đàng Trong, đi giảng các tỉnh miền Nam Trung Kỳ. Quan Tổng đốc Cham vẫn chưa
nguôi hiềm, lại ra lệnh trục xuất một lần nữa. Ngài qua Manilla, về Macao và
hai lần nữa lại sang Đàng Trong. Sau hết tháng Juillet 1645, ngài bị vua kết án
trảm, nhưng sau đổi ra trục xuất, nên ngài phải từ biệt hẳn Đàng Trong. Trong
“sách du ký” thuật đến khúc ấy, ngài viết: “Xác tôi tuy bỏ Đàng Trong, nhưng
lòng tôi không bỏ được xứ ấy và xứ Bắc Kỳ, trái tim tôi hoàn toàn ở lại với hai
xứ ấy, và tôi tưởng không khi nào bỏ được”.
Về Macao lần nầy ngài được lệnh trở lại Âu Châu, cổ động tìm
người tìm của, sang lo việc giảng đạo bên Viễn Đông. Từ biệt Macao cuối năm
1645, cách ba năm rưỡi ngài mới về tới Roma. Lúc về dọc đàng ngài gặp lắm khúc
ly kỳ: chỗ thì bị cầm tù hạch sách, nơi thì được trọng đãi vẻ vang. Tới
Ispahan, kinh đô Ba Tư, lúc đó không gặp tầu đi Cap Bonne Espérance, nên ngài
đi bộ qua Médie, Arménie, Anatolie, Smyrne, hết một năm mới tới Roma, vào giữa
năm 1649.
Tới Roma, ngài không nói chi đến nghỉ ngơi, lập tức khởi cuộc
chiêu binh tập mã, sắm sửa chiến cụ thiêng liêng, đem sang Việt Nam tiếp tế vào
đội quân thái bình truyền giáo. Ngài vào triều yết Giáo hoàng Innocent X, tâu
bày những nỗi nhu cầu của giáo hữu bên Đông, xin Giáo hoàng cắt cử giám mục,
linh mục sang lập cho có cơ sở vững vàng. Giáo hoàng rất đồng ý với ngài và
định phong ngài làm giám mục, ngài nhất định cáo từ trách nhiệm ấy. Đức giáo
hoàng không thể ép được, thì ủy cho ngài đi công cán các nước Âu Châu tuyển
người đảm đang công việc ấy. Ngài vâng lời sang Pháp, đi cổ động ở các thành to
như Marseille, Lyon, Paris. Ngài được các giám mục, linh mục, quan chức và cả
vua cùng hoàng hậu ở Paris nhiệt liệt cổ võ giùm. Lúc đó ở Paris có một hội
nhiều linh mục đanh định tâm lập một công việc lớn lao. Ngài tìm đến hội, tỏ bày
tình cảnh bên Đông Dương, ướm thử ý họ. Sau ít lâu bàn xét, các linh mục ấy
bằng lòng sang giảng đạo bên Viễn Đông. Đó là hòn đá nền tảng của Hội giảng đạo
ngoại quốc Paris. Lướt thắng hết những trắc trở sau cùng, hội này đã chính thức
thành lập ở Paris vào năm 1663. Từ đó đến nay, Hội cử sang Viễn Đông rất nhiều
vị thừa sai anh hùng can đảm không sợ chết, không sợ lưỡi gươm ngọn mác, đem
chân lý đức tin Công giáo sang tuyên bố giảng truyền.













