WHĐ (05.5.2022) - Ủy ban Thánh nhạc (UBTN) trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổ chức Hội thảo Thánh nhạc Toàn quốc lần thứ 48 tại Trung tâm Mục vụ (TTMV) TGP Sài Gòn lúc 8g30 thứ Ba ngày 3-5-2022, dưới sự chủ tọa của Đức Giám mục (ĐGM) Aloisiô Nguyễn Hùng Vị - Chủ tịch UBTN và linh mục (Lm) Rôcô Nguyễn Duy - Thư ký UBTN.
Tham dự Hội Thảo có 180 vị, gồm: Ban thường vụ UBTN toàn quốc, Thư ký của một số Ủy ban Giám mục liên hệ, các Trưởng Ban Thánh nhạc của 27 Giáo phận và các thành viên, các linh mục đặc trách Thánh nhạc của các chủng viện, các vị đặc trách Thánh nhạc của các hội dòng, các linh mục là cộng tác viên của UBTN toàn quốc cùng các nhạc sĩ (Ns), ca trưởng Thánh nhạc, các giảng viên Thánh nhạc tại TTMV TGPSG.
Khai mạc – Gặp gỡ
Buổi Hội thảo được bắt đầu với giây phút cầu nguyện để xin Chúa thánh hóa. Sau đó, Ns Phanxicô đã giới thiệu thành phần tham dự và mời Lm Giuse Phạm Đình Ái, SSS thuyết trình đề tài “Thánh lễ và Thánh nhạc”.
Các điểm nhấn của bài thuyết trình:
- Phân biệt các bài Phụng Vụ và các bài hát trong Thánh lễ
(1) Bài lễ = bản văn phụng vụ của Thánh lễ (nằm trong Sách Lễ Rôma): Các lời nguyện thuộc chủ tế + kinh tiền tụng + ca nhập lễ + ca hiệp lễ;
(2) Bài đọc [Sách Thánh] (nằm trong Sách Bài Đọc);
(3) Bài hát: (i) Nằm trong “Sách hát của Giáo Hội hoàn vũ” = Graduale Romanum/ Graduale Simplex; (ii) Nằm trong sách hát của GH địa phương (những bài hát đã được Hội Đồng Giám Mục [-GM] chuẩn nhận để dùng trong phụng vụ).[1]
Phụng vụ phân biệt 2 loại hát: (a) Hát phụng vụ (singing the liturgy)/hát Thánh lễ (singing the Mass); và (b) Hát trong phụng vụ (singing at the liturgy)/hát trong Thánh lễ (singing at the Mass).
a/ Hát phụng vụ/Thánh lễ
Hát phụng vụ/Thánh lễ là phụng vụ/Thánh lễ được hát lên (sung liturgy/Mass). Trong trường hợp Thánh lễ, hát phụng vụ là hát chính bản văn phụng vụ của Thánh lễ. Bản văn phụng vụ của Thánh lễ bao gồm bản văn thuộc Nghi thức Thánh lễ (Ordo Missae) và thuộc phần cử hành Lời Chúa (Sách Bài Đọc):
- Bản văn phụng vụ thuộc Nghi thức Thánh lễ bao gồm: (i) Những lời đối đáp, tung hô = dấu thánh giá, lời chào, kinh nguyện dành cho LM, kinh Tiền tụng, Sanctus, Tung hô tưởng niệm, Vinh tụng ca, lời mời gọi hiệp lễ và những lời theo sau, lời giải tán; (ii) Phần thường lễ = kinh Thương xót, kinh Vinh danh, kinh Tin kính, kinh Lạy Cha, kinh Lạy Chiên Thiên Chúa; (iii) Phần riêng của Thánh lễ = đối ca nhập lễ/hiệp lễ (trong Sách Lễ Rôma/Graduale Romanum/Graduale Simplex), ca tiến lễ trong sách Graduale Romanum/Graduale Simplex.
- Bản văn phụng vụ thuộc phần cử hành Lời Chúa (chính là bản văn Thánh Kinh được công bố) bao gồm: (i) Thánh vịnh đáp ca; (ii) Câu tung hô Tin Mừng; (iii) Các Bài đọc Sách Thánh nằm trong Sách Bài Đọc.
Lưu ý: Các bản văn trên phải được dịch cách trung thực. Ngoại trừ phần riêng của Thánh lễ là đối ca nhập lễ/ca tiến lễ/ca hiệp lễ, nhạc sĩ cần giữ nguyên vẹn bản văn khi soạn các âm điệu cho chúng, nghĩa là dệt nhạc trên bản văn mà không được thay đổi gì.[2] Nếu dệt nhạc cho đối ca nhập lễ/ca tiến lễ/ca hiệp lễ, thì khi hát bản văn này, chúng ta hát Thánh lễ (sing the Mass). Còn nếu lấy ý từ chúng để sáng tác hoặc dùng ca khúc khác để hát thay thế cho ca nhập lễ/ca tiến lễ/ca hiệp lễ, chúng ta đang thực hành hát trong Thánh lễ (sing at the Mass).
Sáng Chúa Nhật (1/5/2022), Giáo Xứ La Sơn hân hoan chào đón Đức Cha Alôisiô Nguyễn Hùng Vị về chủ tế Thánh lễ mừng Bổn mạng và kỷ niệm 100 năm thành lập Giáo xứ. Hiệp dâng trong Thánh lễ có sự hiện diện của Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung – nguyên Giám mục Giáo phận, Cha Tổng đại diện, quý Cha quản hạt, quý Cha trong Giáo phận, quý tu sĩ nam nữ và đông đảo con dân trong và ngoài Giáo xứ.
Trước khi bước vào Thánh lễ, khi đoàn đồng tế di chuyển đến mặt tiền Nhà thờ, Đức Cha Alôisiô đã làm phép tượng Thánh Giuse thợ. Ngài là vị bảo trợ cách riêng của Giáo xứ La Sơn. Trong ngày mừng bổn mạng và tạ ơn nhân dịp 100 năm thành lập, con dân xứ La Sơn cũng muốn dâng lên Thánh Cả tâm tình tri ân và cảm mến vì bàn tay lao tác của Ngài đã luôn ân cần che chở và bảo trợ Giáo xứ trong suốt chặng đường đã qua.
Sau lời chào đầu lễ của Cha chánh xứ Vinh Sơn Nguyễn văn Dương, một vị đại diện HĐMVGX đã đọc bản tóm lược về lịch sử với những nốt thăng trầm, với những dấu chân của các vị mục tử đã âm thầm gieo rắc và chăm sóc hạt giống đức tin trong lòng xứ đạo, để đến hôm nay Giáo xứ được phát triển và gặt hái những hoa trái ơn gọi là các linh mục, tu sĩ và đời sống đạo đức của người dân.
Trong Thánh Lễ, vị chủ tế đã khơi lên tâm tình tạ ơn và xác tín “việc Chúa làm” cho cộng đoàn phụng vụ. Tin mừng Thánh Gioan thuật lại việc Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ lần thứ 3 bằng việc Ngài đã thực hiện một mẻ cá lạ lùng. “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá” (Ga 21,1 -19). Sau một đêm vất vả mà không bắt được gì, các môn đệ đã lắng nghe và mau mắn “thả lưới”. Chúa Giêsu Phục sinh đã củng cố niềm tin cho các môn đệ và qua mẻ cá lạ lùng này đã cho các ông nhận ra sự giới hạn của mình. Vị chủ tế mời gọi, chúng ta hãy xin cho chúng ta nhận biết chúng ta là những người có giới hạn, là những con người yếu đuối để chúng ta luôn luôn tin tưởng và cậy dựa vào Chúa. Hồng ân 100 năm qua hãy nhìn lại “việc Chúa đã làm”, chúng ta hãy ký thác hành trình 100 năm tới với những mẻ cá lạ lùng “việc Chúa sẽ làm”.
Trước khi kết thúc Thánh lễ, một vị đại diện cho cộng đoàn giáo xứ La Sơn có lời tri ân Đức Cha Alôisiô, Đức Cha Phêrô, Cha Tổng đại diện, quý Cha và cộng đoàn đã hiện diện và cầu nguyện cho Giáo xứ để Thánh lễ được diễn ra long trọng và sốt sắng.
Mừng 100 năm thành lập giáo xứ là thời gian đặc biệt để Giáo xứ hướng về Thiên Chúa và hướng về cội nguồn để tấu lên khúc nhạc tri ân.
Tri ân Thiên Chúa vì:
• 100 năm – hồng ân đức tin và ân sủng.
• 100 năm – ơn Thánh Chúa vẫn dạt dào tuôn đổ.
• 100 năm – với những nốt thăng nốt trầm Thiên Chúa đã dẫn dắt Giáo xứ qua mọi chặng đường, nắn đúc lòng tin – cậy – mến của Giáo xứ hôm nay.
Tri ân tình người vì:
• 100 năm – ghi dấu ấn của biết bao vị mục tử đã miệt mài xây dựng Giáo xứ trưởng thành trong đức tin và tình bác ái.
• 100 năm – chúng ta nhớ ơn các bậc tiền nhân đã đóng góp bao công sức, hy sinh, ươm mầm và gầy dựng để có được một Giáo xứ La Sơn lớn mạnh như ngày hôm nay.
Từ khi được chính thức thành lập, Giáo xứ La Sơn đã phải đối mặt với biết bao khó khăn, thử thách qua những biến động của thời cuộc, nhưng với một đức tin mạnh mẽ, can trường, nhờ sự quan phòng và che chở của Thiên Chúa, lớp lớp thế hệ người con của Giáo xứ vẫn luôn gìn giữ và làm cho hạt giống Tin Mừng của cha ông được nảy nở và không ngừng lớn mạnh.
Mừng Bổn mạng và kỷ niệm 100 năm thành lập Giáo xứ là thời khắc ân sủng để cộng đoàn Giáo xứ nhìn lại quá khứ với niềm tri ân cảm tạ, chấn hưng hiện tại với niềm vui và bình an, để hướng tới tương lai với một niềm hy vọng và xác tín.
Xin Thánh Cả Giuse chuyển cầu để Thiên Chúa ban cho từng người con xứ La Sơn hôm nay luôn nhạy bén trước ân sủng, nỗ lực sống hồng ân đức tin với niềm hăng say, kiên trì, can đảm viết tiếp bản trường ca tri ân, biết trân trọng lịch sử và bước trên con đường Hội Thánh hiệp hành, cùng nhau chung tay xây đắp cộng đoàn Giáo xứ cho một trang sử mới.
La Sơn, ngày 02/05/2022 Người Con Xứ La Sơn WGPKT(02/05/2022) KONTUM
Ngày 04/05/2022, lễ kính Á Thánh Gioan Martinô Moye (1730-1793), bổn mạng Hội Dòng Chúa Quan Phòng (SPP). 52 năm hiện diện tại GP Kon Tum bắt đầu từ tháng 10/1970 tại Plei Kơbey (1970-2022), các Sơ CQP đã kiên trì bám trụ, hết mình phục vụ mang lại nhiều hoa trái trên cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên.
Xin kính chúc mừnglễ bổn mạng của quý Sơ, cách riêng Cộng Đoàn Kim Phước và Cộng Đoàn Phương Quý vừa tròn 50 năm kim khánh thành lập (1972-2022). Xin Chúa Quan Phòng ban muôn ơn lành cho Hội Dòng, để Hội Dòng tiếp tục thực hiện đặc sủng của Cha Gioan Martinô Moye là: “Thực hiện kế hoạch lòng thương xót của Chúa trên những người nghèo nhất và bị bỏ rơi nhất”.
hiện được lưu giữ tại Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội
SỐ PHẬN TẤM BIA
VÀ DANH XƯNG “ÔNG TỔ CHỮ QUỐC NGỮ”
CỦA CHA ALEXANDRE DE RHODES
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Lòng biết ơn (gratitude) là một đức tính (virtue), một bổn phận (duty) hay cả hai? Đối với Marcus Tullius Cicero (106-43 trước Công nguyên) – một triết gia, nhà hùng biện và lý luận chính trị Roma – “lòng biết ơn” không chỉ là một đức tính cao trọng nhưng còn là mẹ của các đức tính khác (Gratus animus est una virtus non solum maxima, sed etiam mater virtutum onmium reliquarum); còn đối với triết gia Aristotle thì đó là một món nợ (debt) vì ông tin rằng cảm thấy biết ơn ai nghĩa là cảm thấy mình mắc nợ người đó.
“Lòng biết ơn” trong tiếng Anh là “gratitude” (tiếng Hy Lạp là χάρις, tiếng Latinh là gratia), và từ này đến từ gốc tiếng Latinh là “gratus” có nghĩa là “vui lòng, chào mừng, sẵn sàng tiếp nhận”. Gratus cũng là từ gốc của những hạn từ liên quan như ân huệ (grace), số tiền nhỏ để tặng cho người giúp mình (gratuity) và sự miễn phí (gratis), tất cả những từ này đều nói lên những trạng thái, hành động và những ý nghĩ tích cực.
Từ “gratitude” trong tiếng Pāli là kataññū, nghĩa là “biết những gì mà người khác làm cho mình”, đồng thời những người nhận biết và đánh giá cao sự giúp đỡ hay phục vụ của người khác cũng được gọi là kataññū. Trong các kinh Phật cổ xưa cũng nói rằng người tốt là người biết ơn hoặc lòng biết ơn hoàn toàn ở cấp độ của một thiện nhân.[1]Mahāmaṅgala sutta (Kinh đại phúc đức) nhìn nhận lòng biết ơn là một trong những nguyên nhân để đạt được sự thịnh vượng, sự thành công, và sự vô ơn là một trong những ngăn trở để đạt đến jhāna (Thiền). Hơn thế nữa, đây là một đức tính cao quý của người cao thượng – theo Đức Phật - bởi vì chẳng những là người tốt không thôi mà phải là người cao quý, cao thượng (noble person) thì mới để tâm đến và biết ơn vì những ân huệ mà mình nhận được từ tha nhân (A noble person is mindful and thankful of the favours he receives from others – The Buddha).
Và để tỏ lòng biết ơn những người có công lao trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ mà cha Alexandre de Rhodes là “vị đại diện”, một “đài kỷ niệm cha A-lịch-sơn Đắc-lộ” đã được khánh thành tại Hà Nội, vào lúc 5 giờ chiều ngày 29/5/1941. “Bên đền Bà Kiệu, xế cửa đền Ngọc Sơn, tấm bia kỷ niệm ông Alexandre de Rhodes đã cao xây dưới bốn mái, chiếc phương đình theo lối kiến trúc Đông phương… ông Alexandre de Rhodes đã sống lại với dân Hà thành giữa bầu không khí ngưỡng mộ truy tư đầy vẻ trang nghiêm cảm động trong lễ khánh thành đài kỷ niệm ở Phố bờ Hồ Hoàn Kiếm”[2] “có quan toàn quyền Decoux và hầu khắp thân hào thành phố đến dự”. Trong buổi lễ, ông Bernard de Feyssal đã tóm tắt quá trình lập quỹ xây dựng đài kỷ niệm, bắt đầu từ khoảng năm 1923-1924 với thiếu tá Bonifacy, một người yêu mến sử Việt, và ông Henri Cucherousset, chủ nhiệm báo Éveil Économique de l’Indochine. Trong buổi lễ có các bài diễn thuyết của Đức cha Nguyễn Bá Tòng, ông Ngô Tử Hạ là chủ nhà in và ông Nguyễn Văn Tố là Hội trưởng Hội Trí Tri và Hội truyền bá chữ Quốc ngữ, tất cả đều nói lên công lao của cha Alexandre de Rhodes hay A-lịch-sơn Đắc-lộ trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.[3] Tuy nhiên - như triết gia Thomas Paine đã nói – “thời gian tạo ra nhiều biến đổi hơn là lý lẽ!”.
Hơn ba phần tư thế kỷ trôi qua, kể từ giai đoạn hình thành những bài thánh ca tiếng Việt (thập niên 1940), nền Thánh nhạc Việt Nam đã và đang phát triển không ngừng. Những bài thánh ca Việt Nam, ngoài việc góp phần nuôi dưỡng đức tin của Dân Chúa[1], còn góp phần thăng tiến các giá trị khác trong đời sống văn hoá của xã hội. Nhiều thế hệ nhạc sĩ, ca trưởng, nhạc đoàn, ca đoàn.. .đã và đang nối tiếp nhau đóng góp cho Thánh nhạc Việt Nam ngày càng thêm đa dạng và phong phú.
Tuy nhiên, trong bất cứ sự phát triển nào cũng có mặt tích cực cần được phát huy, và mặt tiêu cực cần phải khắc phục, như nhận định của Uỷ ban Thánh Nhạc (UBTN) trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) “còn nhiều vấn đề cần phải được gạn đục khơi trong ở cả hai lĩnh vực: sáng tác và sử dụng, sao cho đúng tinh thần phụng vụ của Giáo hội”[2].
Bài viết này không đề cập nhiều về những thành tựu của Thánh nhạc Việt Nam trong thời gian đã qua, nhưng tập trung khảo sát những khiếm khuyết cần khắc phục để có thể phát triển toàn diện hơn trong tương lai.
Những khiếm khuyết ấy phát xuất (2) từ bối cảnh lịch sử hình thành và phát triển với chỉ một hình thể âm nhạc độc tôn và một danh xưng “thánh ca” duy nhất, đã (3) dẫn đến một số ngộ nhận nơi các nhạc sĩ và người sử dụng tác phẩm. Mà để hạn chế và giảm thiểu những ngộ nhận ấy, cần phải tìm hiểu xem giáo hội đã (4) phân loại thánh nhạc như thế nào, để dựa trên những hướng dẫn đó, chúng ta có thể (5) phân loại và định danh các bài thánh ca tiếng Việt. Việc nhận ra những khiếm khuyết trong quá khứ chắc chắn sẽ giúp mở ra một tầm nhìn cho sự phát triển (6) hướng đến tương lai.
Tại Việt Nam, trước Công đồng Vatican II, thánh lễ được linh mục cử hành bằng tiếng La tinh. Vì vậy, để hiệp thông với linh mục, giáo dân thường hát những bài ca diễn tả ý nghĩa chung của từng phần phụng vụ mà sau này được gọi là “hát chầu lễ”[3].