Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

BĂN KHOĂN VỀ DANH XƯNG ĐỂ GỌI CÁC NỮ TU TRONG HỆ THỐNG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM






Các danh xưng hiện đang được sử dụng trong và ngoài nước: Nữ tu sĩ, nữ tu (Latin: monialis; tiếng Anh: nun, feminine of religieux; tiếng Pháp: religieuse), Chị, Bà Xơ, Sơ, Sister, Soeur (soror, religious sister, sœur religieuse), Dì hay Dì Phước (Sister of Charity – Sœur de Charité), Mẹ và Mẹ Bề Trên (Mother, Mother Superior – Mère Supérieure).

Ở đây, người viết không dám đề cập đến nguồn gốc (từ nguyên) và khía cạnh ngôn ngữ học của các từ này (vì không đủ trình độ), mà chỉ nêu lên những băn khoăn và đưa ra các đề nghị để sử dụng các từ này sao cho phù hợp với sự giao tiếp hàng ngày giữa các nữ tu Công Giáo cùng những người chung quanh.

Trong Công Giáo, hai từ nữ tu sĩ (nun) và chị (sister) thường được hiểu giống nhau, đồng nghĩa. Thế nhưng, đôi khi, người ta lại muốn phân biệt rõ ràng giữa hai từ đó: nữ tu sĩ là người có cuộc sống ẩn dật khép kín trong các tu viện để suy niệm và cầu nguyện cho sự cứu vớt các linh hồn tha nhân, trong khi chị thì lại sống cuộc sống dấn thân - vào đời - để cầu nguyện và phục vụ cho người nghèo, đau ốm hoặc kém may mắn khác tại các nhà thương, trường học, viện mồ côi, viện tế bần, phong cùi, hay tư gia, v.v..
 

Ở các giáo xứ và cộng đồng đức tin, các chị phụ giúp các linh mục chính xứ/quản xứ trong các công tác mục vụ, phụng vụ, dạy giáo lý, v.v..

Không biết từ nguyên do nào, các giáo hội Thiên Chúa Giáo đã gọi các nữ tu sĩ là chị (religious sisters). Theo định nghĩa của từ điển Merriam Webster, ngoài các nghĩa thông thường được dùng trong cuộc sống hằng ngày, từ Sister (viết hoa) được dành cho các nữ tu của hệ thống Thiên Chúa Giáo, hay là y tá/y tá trưởng trong tiếng Anh gốc (British English). Tại Việt Nam, từ Sœur - được phiên âm là Xơ, và ghép với chữ Bà, để chỉ nữ tu sĩ Công Giáo – đã được du nhập vào Việt Nam từ lúc các thừa sai Âu Châu qua Việt Nam giảng đạo. Nó đã trở thành một từ chuyên biệt để gọi các nữ tu Công Giáo: từ bà xơ đã gắn liền với từ dì phước (sister of charity – sœur de charité) và đã trở thành các từ rất phổ biến trong dân gian. Vì sao lại gọi là phước? Vì cuộc sống các chị gắn liền với công việc làm phước. Vì sao gọi là dì? Đối với tình cảm người Việt, tiếng dì gắn liền với một hình ảnh rất thân thương trong họ: em của mẹ. Xểnh mẹ bú vú dì (nếu lỡ chẳng may mẹ mất thì dì nuôi). Gọi các nữ tu là dì để biểu tỏ sự kính trọng, tương đương với việc gọi các linh mục là cha. Cha và chú thuộc bên nội, mẹ và dì thuộc bên ngoại. Như vậy, trong Giáo Hội Việt
Nam, nói cho vui, chúng ta có cả nội lẫn ngoại.

Dù xuất xứ từ đâu đi nữa, chỉ nội việc nhìn người nữ tu Công Giáo tận tụy bên giường bệnh săn sóc người đau yếu với chức nghiệp của người y tá và với tình yêu thương đùm bọc của người chị, ta cũng đã thấy cái từ chị đã được gắn liền một cách thân thương với bộ áo dòng mà các chị mang. Cũng thế, khi nhìn thấy các chị chăm sóc đàn trẻ trong các viện mồ côi, các bệnh nhân phong cùi trong các trung tâm bị người đời xa lánh, ta cũng đủ thấy cái sự hy sinh cao quí mà chỉ có được ở những người chị, người mẹ. Có lẽ vì thế mà Hội Thánh đã ban tước hiệu cao quí “chị” cho các nữ tu.

Tại quốc ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, nơi có nhiều nữ tu Công Giáo Việt Nam phục vụ trong các giáo xứ hay cộng đồng đức tin Việt Nam, gần đây chúng tôi thấy xuất hiện chữ soeur hay Soeur trước tên của các nữ tu Công Giáo (thí dụ: Soeur Hồng, Soeur Theresa, các soeur Dòng Đa-Minh, v.v.). Điều này thấy “dị dị” làm sao ấy! Soeur (đúng ra là Sœur) là tiếng Pháp, Hồng là tiếng Việt, Theresa là tiếng Anh (tiếng Pháp là Thérèse), được viết trên các bản tin, thư từ trong các giáo xứ hay cộng đoàn đức tin Việt Nam ở Hoa Kỳ, nơi mà người dùng tiếng Anh phải viết và hiểu là Sister hay sister! Đa số giáo dân Việt
Nam, nhất là thanh thiếu niên, chưa hề tiếp xúc với tiếng Pháp, đâu biết nghĩa của chữ soeur đó, và phải đọc như thế nào. Mà cách viết đó thì không những sai về ghép vần (chính ra, phải viết là sœur - chữ o và e phải được viết sát nhau thành œ, chữ này được gọi là e dans l’o – e in the o), lại thiếu chỉnh tề trong ngôn ngữ (nửa Pháp nửa Việt, hoặc nửa Pháp nửa Anh).
 

Vì thế, chúng tôi đề nghị không nên viết soeur trong các văn kiện, bản tin, báo chí Việt ngữ, dù ở trong hay ngoài nước, vì chữ ấy hình như không có trong bất cứ một từ điển nào trên thế giới (có chăng chỉ ở trên internet).
 

Còn việc dùng từ chị thì sao? Hình như các nữ tu Việt
Nam mình không muốn được gọi là chị, một từ mà người Âu Mỹ dùng rất tự nhiên khi xưng hô với các nữ tu: Sister Theresa, Sœur Thérèse. Lý do: đối với phong tục của người Âu Mỹ, họ không có thói quen gọi nhau, hay gọi những người trong thân tộc, bằng các từ bác, chú, cậu, dì, anh, chị, em. Tất cả, dù lớn, dù bé, đều gọi nhau bằng tên. Cháu nhỏ 10 tuổi gọi ông cụ, bà cô già 70 tuổi cũng chỉ bằng cái tên cộc lốc: Joe, Michelle. Nên khi họ gọi hay nói chuyện với các nữ tu bằng từ sister hay sœur thì rõ ràng là họ đang xưng hô với các nữ tu trong ý nghĩa đầy đủ của nó. Còn trong phong hóa Việt Nam, khi xưng hô với nhau với cái tên thì mới lịch sự: ông Ba, chị Tư, anh Năm. Nên chi, khi xưng hô với các nữ tu mà dùng từ chị thì có vẻ không được trân trọng vì nó lẫn với cách xưng hô ngoài đời hay trong gia đình, thân tộc (thí dụ: với từ Chị Vân, người ta nghĩ chúng ta đang nói về một người đàn bà nào đó có tên Vân). Ngoài ra, cái từ chị đó, trong ngôn ngữ Việt Nam, cũng không nói lên được thiên chức của các nữ tu, cái thiên chức mà để có được, các nữ tu sĩ đã phải hy sinh rất nhiều, từ danh vọng, sự giàu có, đến duyên tình lứa đôi, để sống cuộc đời tận hiến cho Chúa Kitô, cho Giáo Hội, và cho tha nhân. Với các từ “bà xơ”, “dì phước”, hay “sơ”, tự nó đã nói lên được cái công việc mà các nữ tu đang làm, cái chức vị trong xã hội hay Giáo Hội mà các nữ tu đang nắm giữ (thí dụ: cũng với tên Vân, mà viết là Sơ Vân, thì ai cũng hiểu đó là nữ tu Công Giáo tên Vân).


Tóm lại, chúng tôi mạo muội đề nghị hệ thống hóa các danh xưng cho các nữ tu Công Giáo Việt
Nam với các từ sau đây:

Sơ (hay Xơ?). Chữ “xơ” là chữ mà người Việt xưa đã dùng để phiên âm từ chữ sœur của tiếng Pháp, và được liệt kê dưới dạng danh từ ghép “bà xơ” trong tất cả các từ điển Anh Việt hay từ điển định nghĩa Việt Nam mà chúng tôi có được. Cách phiên âm này có vẻ không được chính xác, và là một vấn đề cần bàn, nhưng lại quá rộng lớn về ngôn ngữ, đi ra khỏi lãnh vực bài viết này. Trở lại với chữ sơ, chúng tôi đề nghị phiên âm chữ sœur thành “sơ”, vì các lý do:
 

- âm s trong chữ sơ của tiếng Việt (tiếng mượn) gần với âm s trong chữ sœur của tiếng Pháp (tiếng gốc) hơn, và cũng gần cả với gốc Latin “soror”(không quá mạnh như âm sh của tiếng Anh, mà cũng không quá nhẹ như âm x của tiếng Việt);

- từ sơ, gốc Hán Việt, có nghĩa là bắt đầu (nghĩa và âm phát ra có vẻ thanh lịch hơn từ xơ dưới đây);

- từ xơ, gốc thuần túy Việt Nam (không có trong từ điển Hán Việt), có nghĩa là phần dai lẫn trong một số củ, quả hay vỏ (xơ củ xu hào già, xơ mít, xơ mướp) hay vật gì đã bị mòn cũ, rách te tua (quần xơ gấu). (Có lẽ, các sơ Việt
Nam mình không thích cái ý nghĩa này lắm!);

- chữ xơ, đứng một mình, với nghĩa là nữ tu sĩ, không có trong từ điển Việt
Nam; nó phải đi chung với chữ bà thì mới có được ý nghĩa ấy (bà xơ). Từ bà xơ này chỉ là một danh từ chung để người đời nói hay viết về các nữ tu, không thể được dùng để xưng hô giữa các nữ tu và giáo dân hay người đời, và cũng không dùng để viết hay gọi như một tước hiệu hoặc chức vị được (giáo dân mà xưng hô với một sơ trẻ bằng từ bà xơ thì tội nghiệp cho sơ đó, mà sơ tự xưng chức vị mình là bà xơ thì lại mang tiếng tự tôn).
 

Để gọi, nói hay viết về các nữ tu sĩ nói chung, chúng tôi đề nghị dùng từ sơ (thí dụ: các sơ Dòng Mến Thánh Giá – s thường). Chúng ta sẽ dùng từ Sơ khi muốn gọi, viết hoặc nói về một sơ mà ta biết rõ, vì đây là một tước hiệu hay chức vị (thí dụ: Sơ Têrêsa – S hoa). Ngoài ra, chúng tôi đề nghị không nên viết tắt là Sr. khi đứng trước một tên Việt Nam (rút từ tiếng Anh Sister và tiếng Pháp Sœur) trong các văn kiện, bản tin tiếng Việt, vì nó không chỉnh (Anh Việt hay Pháp Việt lẫn lộn); vả lại, chữ Sơ cũng đã quá đủ ngắn để không cần phải viết tắt (thay vì viết Sr. Têrêsa, ta viết là Sơ Têrêsa).

Khi tiếp xúc với giáo dân hay người đời, nhỏ hay lớn tuổi hơn mình, mà các nữ tu tự xưng là sơ thì không ai trách được cả, vì chữ sơ mang cả hai nghĩa: chị (thân mật) và em (khiêm nhường).

Dì và Dì Phước. Từ dì này rất hay vì nó mang một biểu tượng đáng kính trong thứ bậc họ hàng (ngang hàng với mẹ mình). Khi giáo dân hay người đời gọi hay nói chuyện trực tiếp với các nữ tu, nhất là các vị đã đứng tuổi, thì có thể kêu họ là dì. Khi viết thì có thể thêm chữ phước cho rõ nghĩa (thí dụ: các dì phước Hội Dòng Mến Thánh Giá Gò Vấp, Dì Têrêsa).
 

Các nữ tu, đặc biệt là các nữ tu đã đứng tuổi, cũng có thể tự xưng mình là dì khi viết cho hay nói chuyện với những người trẻ hơn mà không mất đi tính khiêm nhường của mình.

Mẹ và Mẹ Bề Trên. Từ mẹ thường được người đời hay các nữ tu trẻ gọi hay viết cho các nữ tu sáng lập các tu hội (thí dụ: Mẹ Têrêsa Calcutta), từ mẹ bề trên được dùng cho các vị lãnh đạo các nhà dòng và tu hội (thí dụ: Mẹ Bề Trên Dòng Đa-Minh Việt
Nam).
 

Các nữ tu mang trọng trách cao cả này thường tự xưng là mẹ khi tiếp xúc với những người trẻ hoặc các nữ tu đệ tử của mình, và điều ấy thật là hợp lý và chính đáng.

(Bài này được viết với tất cả lòng thành muốn đóng góp ý nhỏ vào việc hệ thống hóa một số ngôn từ trong Giáo Hội Công Giáo Việt
Nam. Bài viết chắc chắn còn nhiều điều thiếu sót hay mang tính chủ quan, kính mong được quí vị, nhất là quí cha, quí tu sĩ, và quí sơ, góp ý bổ túc cho. Khởi sự viết ngày 15 tháng 3 năm 2012, hiệu đính lần chót ngày 5 tháng 5 năm 2012).

Lê Văn Thu
(Tacoma, Mùa Chay 2012)

(e-mail address: levthu@yahoo.com)

Phụ chú: Để viết được con chữ œ trên máy vi tính, ta ấn các nút Ctrl + Shift + & cùng một lúc, xong bỏ các ngón tay ra, rồi đánh ngay vào nút có chữ o; hoặc vào insert, nhấn chuột trái, vào Symbol, rồi chọn œ.

Tham khảo: Nun (Wikipedia); Xơ (Từ điển mở wiktionary); Nữ Tu (Bách Khoa Toàn Thư Mở - Wikipedia); Nun - bà xơ (hoctuxa.net); Mẹ Teresa (Bách Khoa Toàn Thư Mở - Wikipedia). Sister (merriam-webster.com); Sister (Từ Điển Anh Việt - Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam - 1993); xơ (Việt Nam Tự Điển - Lê Văn Đức - 1970); bà xơ (Từ điển từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân - 1998); sơ, xơ, bà xơ (Từ Điển Tiếng Việt - Vietlex - 2010); sơ (Hán Việt Từ Điển – Đào Duy Anh); xơ và sister (Từ Điển Thông Dụng Việt-Anh Anh-Việt - Nguyễn Văn Khôn - 1967); Năm linh mục: thăm viếng các cha và các xơ hưu dưỡng (VietCatholic News - Trọng Phương - 10/26/2009).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét