Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

 


CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
CỦA HAI GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI GIÁO HỘI VIỆT NAM

+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục Gp. Phan Thiết

Mục lục

DẪN NHẬP

     1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha

     2. Đường Hướng Của Toà Thánh

     3. Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam

Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC

     I. ĐỨC CHA LAMBERT

          1. Các Cuộc Kinh Lý

          2. Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương

          3. Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ

          4. Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá

     II. ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU

          1. Hành Trình Á - Âu Lần Thứ Nhất (1665 – 1673)

          2. Hành Trình Á - Âu Lần Thứ Hai (1674 – 1681)

     III. HAI CÁI CHẾT LÀNH THÁNH

          1. Đức Cha Lambert

          2. Đức Cha François Pallu

     IV. TÓM LẠI

PHẦN II. HƯỚNG TỚI VIỆC PHONG THÁNH CHO HAI VỊ GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI VIỆT NAM

     I. “Chứng Từ Lịch Sử Trên Văn Bản”: do Nhóm chuyên viên phụ trách

     II. “Chứng Từ Lịch Sử Sống Động”

          1. Chứng Nhân Tử Đạo

          2. Một Giáo Hội Trên Đà Trưởng Thành

          3. Gia Đình Mến Thánh Giá

     III. Phúc Lành Của Thiên Chúa qua các phép lạ

KẾT LUẬN


DẪN NHẬP

“Phần các Giám mục, các ngài được Chúa Thánh Thần cắt cử để kế vị các Tông đồ làm mục tử chăn dắt các linh hồn, đồng thời, hợp nhất với Đức Giáo hoàng và dưới quyền ngài, các Giám mục được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Sắc lệnh Giám mục, Christus Dominus số 2 – 28/10/1965)

1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha

Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam thời kỳ đầu được thực hiện chủ yếu bởi Dòng Tên dưới quyền bảo trợ của người Bồ Đào Nha. Các nhà truyền giáo đã gặt hái được những thành công đáng kể: số tín hữu gia tăng với tinh thần sống đạo sốt sắng, Hội Thầy giảng được thành lập, khai mở nền văn chương Công giáo trên đất Việt, v.v…. Tuy nhiên, những cuộc bách hại Đạo và việc trục xuất các thừa sai ngoại quốc, cùng với những cản trở từ phía Chế độ Bảo trợ luôn là những thách đố lớn cho công việc truyền giáo tại đây.

Theo thỉnh nguyện của cha Đắc Lộ được đệ trình lên Toà thánh sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1645, ngài nhấn mạnh hai đề xuất chính:

- Do tình trạng thiếu linh mục để chăm sóc các tín hữu, nâng đỡ họ trong những cuộc bách hại, xin Toà thánh sớm gởi các Giám mục qua để thành lập hàng Giáo phẩm địa phương, đào tạo và phong chức các linh mục bản xứ;

- Ban đầu, ngài dự định xin Đức Thánh cha bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa, nhưng khi hiểu được kế hoạch của Tòa thánh trong chương trình gửi các Giám mục Đại diện Tông tòa, để tránh rắc rối với Chế độ Bảo trợ, cha Đắc lộ đệ trình một bản ‘ghi nhớ’ xin gửi Giám mục in partibus (trong phần đất dân ngoại) và không cần cho Vua Bồ Đào Nha biết[1].

2. Đường Hướng Của Toà Thánh

Dù phải công nhận rằng Chế độ Bảo trợ có những đóng góp nhất định cho công cuộc truyền giáo chung, nhưng Toà thánh ngày càng nhận ra những bất cập, lạm dụng, thậm chí trở thành những khó khăn và nguy hại, nhất là khi các vua chúa đặt quyền lợi chính trị và kinh tế lên hàng đầu.

VỀ TẤM BIA CHỮ HÁN TRÊN MỘ ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU

 

Vinhsơn Trần Minh Thực, PSS

WHĐ (21.10.2021) - Trong cuốn Tiểu sử Đức cha François Pallu & Đức cha Lambert de la Motte do Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) ấn hành vào năm 2020, tấm hình ngôi mộ và tấm bia mộ[1], với những dòng chữ Hán, thu hút sự quan tâm đặc biệt của chúng tôi. Tuy nhiên, trong tấm hình, chỉ có dòng chữ ở chính giữa còn đủ rõ để đọc được, những dòng chữ còn lại quá nhỏ và quá mờ. Rất may, cũng từ dòng chữ đủ rõ ở chính giữa, chúng tôi tìm được một bài viết của linh mục Trần Khai Hoa về Đức cha François Pallu, với thông tin khá đầy đủ về những dòng chữ Hán trên bia mộ[2].

Những dòng chữ trên bia mộ được ghi lại trong bài viết của Trần Khai Hoa

Sau đó, chúng tôi tìm được một tấm hình khác của tấm bia, được in trong Tập san Hội Thừa sai Paris[3], với những hàng chữ còn tương đối rõ nét.


Hình ảnh tấm bia trong Tập san Hội Thừa sai Paris

Dựa vào tấm hình bia mộ và bài viết của linh mục P. G. Guéneau, cùng với những thông tin từ bài viết của Trần Khai Hoa và một số tài liệu khác, chúng tôi sẽ xem xét tấm bia mộ theo bốn điểm sau đây:

- Những khía cạnh văn bản

- Xem xét ý nghĩa

- Niên đại tấm bia

- Một vài thông tin

1. Những khía cạnh văn bản

Tấm bia gồm năm hàng chữ dọc, từ phải sang trái lần lượt như sau:

Hàng 1 gồm 20 chữ Hán;

Hàng 2 gồm 17 chữ Hán;

Hàng 3 gồm 9 chữ Hán;

Hàng 4 gồm 11 chữ Hán;

Hàng 5 gồm 18 chữ Hán.

Các hàng chữ có độ lớn không đều nhau. Chữ ở hàng thứ ba lớn nhất, ở hàng thứ tư nhỏ hơn, ở những hàng còn lại, chữ còn nhỏ hơn nữa.

François Pallu: vị Thừa sai nhiệt thành thánh thiện

 


FRANÇOIS PALLU: VỊ THỪA SAI NHIỆT THÀNH THÁNH THIỆN

WHĐ (20.10.2021) - Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam in đậm dấu ấn của các vị Thừa sai ngoại quốc. Các ngài thuộc nhiều quốc tịch khác nhau: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Pháp. Nếu các ngài khác biệt về nguồn gốc thì lại duy nhất trong một lý tưởng, đó là làm sao để Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu đến với các dân tộc xa xôi. Lời của Đấng Phục sinh nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (x. Mt 28,16-30) đã thôi thúc các ngài lên đường. Lý tưởng ấy cũng giúp các ngài tìm được sức mạnh trên những bước đường truyền giáo đầy cam go thử thách. Quả thực là một điều không dễ, khi đến một xứ sở xa lạ hoàn toàn khác biệt văn hoá. Các ngài đã khởi đầu từ việc học ngôn ngữ, phong tục tập quán, và chỉ sau một thời gian, có thể giảng dạy cho người bản địa bằng ngôn ngữ của họ. Nhiều vị thừa sai đã can đảm hiến dâng chính mạng sống mình để làm chứng cho điều mình rao giảng. Sau Cha Alexandre de Rhodes, Dòng Tên, Đức Cha François Pallu và Đức Cha Lambert de la Motte là những thừa sai đầu tiên của Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris (MEP) đến truyền giáo tại vùng Viễn Đông. Hai vị Giám mục này cũng là Đồng Sáng lập của Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris. Các ngài là những người có công khai phá mở đường cho các thế hệ thừa sai sau này tiến bước. Tại Việt Nam, một số tín hữu, nhất là các nữ tu dòng Mến Thánh Giá, có thể biết chút ít về Đức Cha Lambert de la Motte, nhưng về Đức Cha François Pallu, hầu như không mấy ai biết đến. Nhân dịp kỷ niệm 337 năm ngày người qua đời (29-10-1684/29-10-2021), chúng ta cùng phác hoạ chân dung của vị thừa sai đã nỗ lực cố gắng hết mình để thực hiện sứ vụ loan báo Tin Mừng tại Viễn Đông. Rất tiếc là vì nhiều lý do khác nhau, cuộc đời và sứ mạng của vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện này đã bị lớp bụi thời gian che mờ. Ôn lại cuộc đời của ngài, chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện cho tiến trình xin Toà Thánh phong Chân phước và phong Thánh cho hai vị Đại diện Tông toà đầu tiên của Việt Nam sớm thành tựu.

François Pallu chào đời tại thành phố Tours, nước Pháp và lãnh bí tích Rửa tội vào ngày 31-8-1626. Sau khi học xong chương trình ở chủng viện, ngài thụ phong Linh mục ngày 24-9-1650 và tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ dân luật và Giáo luật. Với Đoản sắc Super Cathedram 1659, Đức Thánh cha Alexandre VII thiết lập hai Địa hạt Tông toà đầu tiên ở Viễn Đông là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đức Thánh Cha cũng bổ nhiệm hai Giám mục François Pallu (Đại diện Tông toà Đàng Ngoài) và Pierre Lambert de la Motte (Đại diện Tông toà Đàng Trong). Đức Cha Pallu được thụ phong Giám mục ngày 17-11-1658 tại Rôma với hiệu toà Héliopolis (nay thuộc Liban). Ngày 2-1-1662, ngài lên tàu tại cảng Marseille để đi Việt Nam, nhưng phải mất hai năm hai mươi bẩy ngày mới tới Thái Lan. Phái đoàn đi cùng ngài ban đầu có 7 linh mục và 2 giáo dân, nhưng khi đến nơi, chỉ còn 4 linh mục và 2 giáo dân.

Được trao sứ vụ Đại diện Tông toà Đàng Ngoài, nhưng Đức Cha  François Pallu lại chưa bao giờ đặt chân đến nhiệm sở của mình, vì bối cảnh xã hội lúc đó phức tạp, nhất là do những cuộc bách hại đạo tàn khốc. Thực ra, Đức Cha François Pallu luôn lo lắng cho nhiệm sở được Toà Thánh trao phó. Ngài đã nhiều lần tìm cách vào Đàng Ngoài mà không được. Khoảng giữa năm 1674, Đức cha François Pallu lên thuyền đi Đàng Ngoài. Cơn bão ném ngài vào bờ biển Manila, và người Tây Ban Nha chặn bắt ngài lại, đối xử với ngài như kẻ thù. Họ đưa ngài trở về châu Âu bằng con đường ngang qua Mexico. Phải nhờ đến sự can thiệp của vua Louis XIV, ngài mới được trả tự do. Lòng nhiệt thành với sứ mạng loan báo Tin Mừng thể hiện rõ trong đời sống và giáo huấn của Ngài, đồng thời cho thấy vị thừa sai của chúng ta luôn trong tâm thế sẵn sàng tử Đạo. Vào tháng 9-1663, sau khi được tin hai vị thừa sai là Cha Brunel Cha Périgaud qua đời vì bạo bệnh, Đức Cha François Pallu đã viết cho bà d’Aiguillon: “Kìa cây cầu đã được bắt đầu; thật quá hạnh phúc nếu xác và xương của chúng tôi, cũng như của những người con thân yêu của chúng tôi có thể được dùng làm cột trụ để củng cố nó và tạo ra một con đường trọn vẹn, rộng mở cho các thừa sai dũng cảm…”. Ngài cũng viết trong thư “gửi các Bạn” đề ngày 1-9-1663: “Chúng tôi thấy mình hạnh phúc vì có thể dùng thân xác của chúng tôi để xây dựng một cây cầu đưa các bạn đến Trung Hoa, hoặc đến Đàng Ngoài, để thi hành sứ vụ ở đó cách trung tín hơn. Cho nên, bất cứ điều gì xảy ra với chúng tôi, tôi xin các bạn luôn luôn xem công trình này như là một trong các công việc chính của chúng ta, và dường như đã được ủy nhiệm và giao phó cho chúng ta hơn là cho bất kỳ ai khác.”[1]

Ngày 17-1-1665, Đức Cha François Pallu trao quyền điều hành Đàng Ngoài cho Đức Cha Pierre Lambert de la Motte để lên đường về lại Châu Âu, với mục đích trực tiếp tường trình với Toà Thánh về những quyết định của Công đồng Ayutthaya được tổ chức năm 1664. Qua hai cuộc hành trình Âu – Á, lần thứ nhất (từ năm 1665 đến 1673) và lần thứ hai (từ năm 1674 đến năm 1681), vị thừa sai của chúng ta vừa tạo nhịp cầu thông tin thường xuyên để Toà Thánh hiểu rõ hơn nhu cầu truyền giáo và bối cảnh xã hội, văn hoá của các quốc gia Viễn Đông, vừa lĩnh hội sự chỉ dạy của Toà Thánh để giúp cộng đoàn Giáo Hội non trẻ ở miền truyền giáo này được vững vàng phát triển.

Tại Rôma, những đệ trình của Đức cha François Pallu được Thánh Bộ cứu xét cẩn thận. Kết quả là năm 1669, Toà thánh đã đưa ra những quyết định sau:

* Chấp thuận bản “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”,

* Tán thành việc lập chủng viện chung cho cả vùng truyền giáo Viễn Đông;

* Đặt Xiêm La dưới quyền cai quản của các Giám mục Pháp. Các ngài có thể tiếp nhận và huấn luyện các linh mục cho vùng Viễn Đông.

Trong những chuyến đi này, Đức cha Pallu nỗ lực tìm kiếm thêm nhân sự cũng như nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo.

Năm 1670, sau khi từ Rôma trở lại châu Á và đang còn lưu lại tại Ấn Độ, qua những tin tức nhận được về chuyến đi Đàng Ngoài của Đức Cha Lambert de la Motte, Đức Cha François Pallu tiếp tục liên hệ qua thư từ với Toà Thánh để xin sự chuẩn nhận cho các quyết định của Công đồng Phố Hiến, Dòng nữ Mến Thánh Giá và Hiệp hội Các Tín Hữu nam nữ Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert thành lập tại Đàng Ngoài.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

Thư Hội đồng Giám mục Việt Nam gửi cộng đồng dân Chúa: Sống đức tin thời đại dịch.

  •  



HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

THƯ GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA
SỐNG ĐỨC TIN THỜI ĐẠI DỊCH

Anh chị em thân mến,

1.Theo thông lệ, Hội đồng giám mục họp Hội nghị thường niên kỳ II vào tháng 10 hằng năm. Năm nay, do tình hình dịch bệnh diễn tiến phức tạp và khó lường, chúng tôi không thể họp mặt trực tiếp, thay vào đó là Hội nghị trực tuyến. Từ Hội nghị này, chúng tôi xin gửi đến tất cả anh chị em lời chào thân ái trong Chúa Kitô, đồng thời xin chia sẻ với anh chị em một số gợi ý và đề nghị cho đời sống đức tin của chúng ta trong hoàn cảnh hiện nay.

Từ khi đại dịch xuất hiện cuối năm 2019, không những chúng ta nhìn thấy mà còn trải nghiệm những tác hại khủng khiếp về mọi mặt của dịch bệnh trên đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Chúng tôi xin chia buồn với các gia đình đã mất đi người thân trong đại dịch, hợp ý cầu nguyện cho người quá cố và xin Chúa ban ơn nâng đỡ anh chị em trong lúc đau buồn. Chúng tôi cũng thường xuyên nhớ đến những anh chị em đang bị nhiễm bệnh, xin Chúa ban cho anh chị em sức khỏe xác hồn để vượt qua giai đoạn thử thách này.

Cùng với những tác hại về thể lý và tâm lý, đại dịch cũng gây tác động tiêu cực trên đời sống đức tin của chúng ta. Dịch bệnh kéo dài khiến người tín hữu không thể trực tiếp tham dự các cử hành phụng vụ tại nhà thờ, mất đi sự nâng đỡ của cộng đoàn trong Giáo Hội, và nhiều người cảm thấy nao núng trong niềm tin vào tình yêu của Cha trên trời.

2. Hiện nay đã có những tín hiệu tích cực về khả năng kiểm soát dịch bệnh, tuy nhiên không ai có thể khẳng định khi nào sẽ chấm dứt. Từ góc nhìn đức tin, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy sống thời gian này như Mùa Chay đặc biệt trong đời sống Kitô hữu. Trong Mùa Chay truyền thống, ba việc đạo đức căn bản mà Giáo Hội kêu gọi chúng ta thực hiện là cầu nguyện, chay tịnh, và làm việc bác ái (x. Mt 6,1-18). Đây cũng là những việc cần làm trong thời dịch bệnh.

Trước hết là cầu nguyện. Trong mùa dịch, mọi người trong gia đình có cơ hội ở gần nhau nhiều hơn, vì thế anh chị em hãy củng cố việc cầu nguyện sớm tối, lần hạt Mân Côi trong gia đình, nhờ đó mọi người trong nhà gắn kết với nhau hơn trong Chúa, cùng nhau vượt qua những khó khăn trong giai đoạn hiện nay như thánh Phaolô khuyên dạy: “Hãy vui mừng vì có niềm hi vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và hãy chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12,12).

Cùng với cầu nguyện là chay tịnh. Trong thời dịch bệnh, mọi người phải chấp nhận những hạn chế về ăn uống, vui chơi giải trí. Thay vì chỉ coi đó như sự bó buộc phải chịu, chúng ta hãy nhìn những hạn chế đó như cơ hội sống chay tịnh để hiệp thông với đau khổ của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, và cầu nguyện cho những anh chị em đang phải chiến đấu với bệnh tật.

Về việc bác ái, ngày 09/07/2021, Hội đồng giám mục đã gửi thư kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hãy làm tất cả những gì có thể, để ứng cứu đồng bào ruột thịt đang vất vả vì đại dịch. Anh chị em đã đáp lời hết sức tích cực, Văn phòng Hội đồng giám mục và Caritas đã tiếp nhận hàng cứu trợ đến từ khắp nơi, hằng trăm linh mục, tu sĩ và giáo dân lên đường ra tuyến đầu phục vụ bệnh nhân. Ngoài ra các Giáo phận đều có những hoạt động bác ái thiết thực để giúp đỡ người dân trong địa phương của mình. Những việc làm tốt đẹp trên đã tạo ấn tượng rất tốt nơi người dân cũng như các cơ quan công quyền. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các ân nhân trong cũng như ngoài nước đã góp phần vào hoạt động bác ái của Giáo Hội. Chúng tôi khuyến khích anh chị em, đặc biệt các bạn trẻ hãy tích cực tham gia những hoạt động bác ái, vì hoạt động đó giúp chúng ta mở lòng ra với tha nhân và sống đúng tư cách môn đệ Chúa Giêsu.

Thư Chung Của Đức Giám Mục Giáo Phận Kon Tum (13/10/2021)

 

Thánh lễ trong thời gian đại dịch

Tải tại đây:

File PDF: Thư Chung của Đức Giám Mục Giáo Phận

File Word: Thánh lễ trong thời gian đại dịch

File PDF: Thánh lễ trong thời gian đại dịch

WGPKT(13/10/2021) KONTUM

Nguồn: giaophankontum.com

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

Lược Sử Giáo Xứ Hơ Moong Kơtu

        Ngày 10/06/2019, Đức Cha Aloisiô Nguyễn Hùng Vị, Giám mục GP Kon Tum quyết định thành lập Giáo xứ Hơ Moong Kơtu tách biệt khỏi Giáo xứ Hơ Moong, và cha Giuse Trần Văn Toán trở thành cha sở tiên khởi.

        Giáo xứ Hơ Moong Kơtu, thôn Kơtu, xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum hiện nay gồm các làng: Kon Kơtu, Plei Kơbey (nhỏ) và Đăk Yo, với tổng cộng 3.337 giáo dân. Trong đó: 3.248 giáo dân sắc tộc Rơngao (riêng Plei Kơbei sắc dân Jrai ; 89 giáo dân Kinh. Bổn mạng giáo xứ là Thánh Cả Giuse (19/03).

WGPKT(11/10/2021) KONTUM

LÊ MINH SƠN

Nguồn: giaophankontum.com



Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

VĂN HỌC CÔNG GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH ĐỊNH


TỌA ĐÀM VĂN HỌC CÔNG GIÁO ĐƯƠNG ĐẠI 19.9.2021

Đề tài 7: VĂN HỌC CÔNG GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH ĐỊNH

Ts Lê Nhật Ký - Giảng viên khoa ngữ văn Đại Học Quy Nhơn


Kontumquehuongtoi
05.10.2021

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

HỎI TRE BAO NHIÊU TUỔI? (Thơ LMSơn)

 


HỎI TRE BAO NHIÊU TUỔI?
Hỏi rặng tre già bao nhiêu tuổi?
Chiều nay lặng lẽ đứng giữa trời.
Trải mấy mùa trăng, mùa nước lũ,
Qua mấy mùa Thương Khó, mùa Mân Côi?
Tre ở chốn này thuở lập làng dựng phố
Rơhai vùng đất xưa nước rỉ giọt trong ngần (1)
Chợt một ngày tiếng kinh rền sông núi
Ánh Tin Mừng tỏ rạng, chuông ngân vang.
Gần hai thế kỷ tre chung tình thắm thiết
Nhà thờ tranh tre nứa thuở khởi đầu
Nhớ Bok Do đạp chông tiến lên phía trước
Tre - nhân chứng vui buồn tất cả trước sau…
Dak Bla ơi xuôi dòng bên Trại Lý
Hỏi tình xưa Kinh - Thượng có chặt bền?
Gò Mít nối nghĩa hai miền Xuôi - Ngược
Tân Hương quê mình mong sáng đức tin.
Chiều nay thăm lũy tre già im không nói
Gió đu đưa cành lá vẫn lặng thầm.
Chợt thấy lòng mình nghe nhoi nhói,
Chỉ biết lặng nhìn tìm những búp măng.
__________________________
(1) Plei Rơhai : theo người Bahnar là làng có nhiều mạch nước rỉ ra. Chúng ta thấy có nhiều giọt nước tốt dọc theo bờ hừng trước nhà thờ Tân Hương trước đây (giờ vẫn còn một vài chỗ).
LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI 3/10/2021
Bổn Mạng Giáo Xứ Tân Hương
Kỷ niệm 170 Trung Tâm Truyền Giáo Rơhai 1851-2021.
Ảnh: Lũy tre làng Rơhai (Bahnar xưa - Tân Hương nay) gần 200 năm tuổi.
LMSơn