Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Video: Hơn 200,000 người dự buổi triều yết chung cuối cùng triều Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16





Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới











































Những tài liệu lịch sử này quý vị và anh chị em có thể download xuống
bằng cách nhấn vào đây
https://vietcatholic.sharefile.com/f/fo1cbcc7-6091-4807-b964-d48eac89fbc2

Quý vị và anh chị em cần đánh vào User Id là videodlnews@gmail.com 
và password là vietcatholic1

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

AI SẼ LÃNH NHẬN CHÌA KHÓA THÁNH PHÊRÔ?




 
 
Nhà báo Sandro Magister


Cho đến ngày 28 tháng Hai, lịch trình làm việc của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI sẽ không thay đổi. Ngài vẫn đọc kinh Truyền tin ngày Chúa Nhật, dự các buổi tiếp kiến chung vào Thứ Tư, dự tĩnh tâm do Hồng y Gianfranco Ravasi giảng, tiếp các cuộc thăm viếng “ad limina" của các giám mục Liguria do Hồng Y Angelo Bagnasco dẫn đầu, và giám mục đoàn Lombardy do Hồng y Angelo Scola dẫn đầu.

Có thể là ngài sẽ lại chào đón một trong hai vị Hồng y này với tư cách là Giáo hoàng mới.

Tại Ý, Âu Châu và Bắc Mỹ, Giáo hội đang trải qua những năm khó khăn, xuống dốc nói chung. Nhưng đây đó vẫn bừng lên sức sống mãnh liệt bất ngờ như đã xảy ra gần đây tại Pháp. Vì thế, một lần nữa, các hồng y bầu chọn sẽ nhắm đến những ứng viên tại khu vực này vì ưu thế về văn hóa và thần học ảnh hưởng trên toàn thế giới. Và có thể chức giáo hoàng sẽ trở lại với nước Ý, sau hai triều giáo hoàng người Ba Lan và Đức.

Trong số những ứng cử viên người Ý, có Hồng y Scola, 71 tuổi, có vẻ sáng giá nhất. Ngài là nhà thần học của tạp chí quốc tế “Communio” mà Đức Bênêđicô XVI là một trong những người sáng lập. Ngài là học trò của Cha Luigi Giussani, sáng lập viên phong trào “Communion and Liberation” (phong trào về văn hóa, bác ái và giáo dục), là viện trưởng Đại học Lateranense, từng là Giáo chủ Venice nơi ngài chứng tỏ có khả năng điều hành và đã sáng lập Trung tâm Thần học và Văn hóa Marcianum, với tạp chí “Oasis” nhắm đến sự gặp gỡ giữa Đông và Tây, Kitô giáo và Hồi giáo. Ngài đã làm Tổng giám mục Milan trong hai năm. Và chính tại đây ngài đã giới thiệu một kiểu làm mục vụ rất đáng lưu ý là phân phát giấy mời đi dự các Thánh lễ tại nhà thờ Chính tòa tại các góc phố và trạm xe điện ngầm, đặc biệt quan tâm đến những người ly dị và tái hôn, khuyến khích họ đến gần bàn thờ hơn mà không cần phải rước lễ, chỉ để được chúc lành mà thôi.

Một ứng cử viên nữa là Hồng y Bagnasco, 70 tuổi, Tổng giám mục Genoa và chủ tịch Hội đồng giám mục Ý.

Không thể không kể đến Giáo chủ Venice hiện nay là Giám mục Francesco Moraglia, 60, một ngôi sao đang lên trong hàng giám mục Ý, một chủ chăn có đời sống thiêng liêng vững mạnh được nhiều giáo dân yêu mến. Có điều hạn chế là ngài không phải là hồng y. Không cấm bầu người ngoài hồng y đoàn, thế nhưng trường hợp Giovanni Battista Montini dù được tín nhiệm rất cao, và được dự kiến là giáo hoàng vào 1958 sau cái chết của Đức Piô XII, nhưng phải đợi nhận mũ đỏ trước khi được bầu chọn vào năm 1963 với danh hiệu là Phaolô VI.

Ngoài nước Ý, Hồng y đoàn dường như đang nhắm đến Bắc Mỹ.

Một ứng cử viên tiềm năng là Hồng y Marc Ouellet của Canađa, 69 tuổi, nói được nhiều thứ tiếng, cũng là nhà thần học của “Communio” và là nhà truyền giáo nhiều năm ở Mỹ Latinh, rồi làm Tổng giám mục Québec, một trong những miền đất tục hóa nhất hành tinh, và hiện nay là Bộ trưởng thánh bộ ở Vatican có nhiệm vụ tuyển chọn các giám mục mới trên toàn thế giới.

Ngoài Hồng y Ouellet, có hai nhân vật khác là Hồng y Timothy Dolan, 63 tuổi, Tổng giám mục New York và là Chủ tịch Hội đồng giám mục Hoa Kỳ, và Hồng Y Sean O'Malley, 69 tuổi, Tổng giám mục Boston.

Nhưng không gì ngăn cản mật tuyển viện quyết định rời bỏ thế giới cũ để mở rộng ra với các châu lục khác.

Nếu dường như không có nhân vật nào nổi trội để thu hút lá phiếu từ Châu Mỹ Latinh và Phi Châu, nơi sinh sống của đa số người Công giáo trên thế giới, thì Á Châu thật sự lại khác.

Trên châu lục này, chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành trục mới của thế giới, Giáo hội Công giáo cũng đang đặt cược cho tương lai mình. Ở  Philippines, quốc gia duy nhất ở Châu Á có số người Công giáo chiếm đa số, Hồng y Luis Antonio Tagle của Manila đang là đích nhắm.

Là nhà thần học và là sử gia Giáo hội, Tagle là một trong các tác giả của bộ sử đồ sộ về Công đồng Vatican II được “trường phái Bologna” cấp tiến xuất bản. Nhưng là một chủ chăn, ngài đã biết cân bằng giữa viễn quan của mình và sự đúng đắn về giáo lý, được chính Đức Bênêđictô XVI đánh giá cao. Điều thu hút sự chú ý là hành động của ngài: sống đơn giản và hòa đồng với đám dân nghèo hèn và rất đam mê truyền giáo cũng như làm việc bác ái.

Một trong những hạn chế là ngài chỉ mới 56 tuổi, trẻ hơn 1 tuổi so với Đức giáo hoàng Wojtyla khi được tuyển chọn. Nhưng quyết định từ nhiệm của Đức Bênêđictô XVI sẽ là tiền đề cho sự đổi mới. Do đó, có thể tuổi trẻ không còn là vật cản cho việc bầu chọn làm giáo hoàng nữa.
 

 


HY Angelo Bagnasco 



HY Angelo Scola 



GM Francesco Moraglia



HY Marc Ouellet



HY Timothy Dolan



HY Sean O'Malley



HY Luis Antonio Tagle
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính lược dịch
Nguồn tin: chiesa.espresso.repubblica.it

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Đức Cha Paul Seitz (Kim) tại Công Đồng Chung Vatican 2



Chúng tôi xin giới thiệu bài chuyển ngữ
                              của LM Phil. Nguyễn Hữu Tiến
             trích dịch “Interventions  des  Pères   conciliaires  MEP
                 au  Concile  Vatican  II”  LM  J-B  Itcaina, MEP
    Đức  Cha  Paul  Seitz (Kim)  tại  Công  Đồng  Chung  Vatican  2
 (Nguồn: facebook Son Hoang)


     Trong  phiên  khoáng  đại  của  kỳ  họp  thứ  nhất, Đức  cha  Paul  Seitz (Kim), giám  mục  giáo  phận  Kontum, đã  phát  biểu  ba  lần. Các  bài  phát  biểu  này  do  cha  Jacques  Dournes, MEP, (1922-1993), biên  soạn, ngài  là  thư  ký  và  chuyên  viên  riêng  về  thần  học  của  Đức  cha  tại  Công  Đồng  chung. Còn  cha  Joseph  Pierron, MEP (1922-1999), dịch  các  bài  phát  biểu  này  sang  tiếng  La  Tinh. Lúc  đó  ngài  đang  ở  Roma  để  chuẩn  bị  lấy  bằng  Tiến  Sĩ  Kinh  Thánh. Ở  đây, chúng  tôi  chỉ  trình  bày  tóm  tắt   các  lần  phát  biểu  của  Đức  cha .


     1. Lần  phát  biểu  đầu  tiên  là  ngày  05  tháng  11  năm  1962, trong  phiên  họp  về  phụng  vụ.  Ngài  nói  trên  hàng  trăm  ngàn  người  sắc  tộc  thiểu  số  ở  Cao  Nguyên  Việt  Nam, chỉ  có  5%  được  rao  giảng  Tin  Mừng. Trở  ngại  lớn  nhất  trong  việc  rao  giảng  Tin  Mừng  là   cách  diễn  đạt  đạo, nhất  là  nghi  thức  phụng  vụ  của  chúng  ta  không  hội  nhập  được  với  nền  văn  hoá  của  các  sắc  dân  này.     Tôn  giáo  của  các  sắc  tộc  thiểu  số  này  có  tính  cách  cộng  đồng, bắt  nguồn  từ  các  huyền  thoại  cổ  xưa, có  nghi  lễ  riêng  và  các  vật  tế  thần. Tôn  giáo  của  họ  bao  gồm  một  lễ  vật  duy  nhất, ngoài  ra  không  có  sự  cầu  khẩn  hay  chúc  phúc  nào  khác. Các  lời  kinh  nguyện  trong  nghi  lễ  tế  thần  là  những  lời  thánh, bất  di  bất  dịch, được  đọc  bằng  tiếng  bản  xứ. Khi tham  dự  vào  việc  cúng  thần, mỗi  người  dâng  cúng   lễ  vật   rồi  sau  đó  ăn  vật  cúng  thần  này.      Việc  Giáo  Hội  dùng  tiếng  La  Tinh  trong  phụng  vụ  tạo  ra  những  suy  nghĩ  như  sau : “Đạo  của  cha  không  thích  hợp  với  chúng  tôi”. Vì  vậy, Đức  cha  xin  Giáo  Hội  hãy  có  những  thích  nghi  cần  thiết  để  công  việc  truyền  giáo  được  dễ  dàng  hơn  nơi  các  nền  văn  hoá  này.


     2. Lần  thứ  hai  ngài  phát  biểu  là  ngày  13  tháng  11  năm  1962, trong  phiên  họp  về  nghệ  thuật  thánh. Lần  nảy ngài  phát  biểu  nhân  danh  hội  đồng  giám  mục  Việt  Nam. Ngài  đề  cập  đặc  biệt  đến  các  điểm  sau  đây : 
      -Làm  sao  cho  nghê  thuật  thánh  phục  vụ  cho  phụng  vụ. 
      -Làm  sao  cho  chỉ  Đức  Kitô  trên  Thánh  Giá  được  đặt  cao  trên  bàn  thờ. Nhưng  cũng  phải  có  chổ  cho  ảnh  tượng  Mẹ  Thiên   Chúa. 
      -Còn  những  ảnh  tượng  khác  của  Chúa  Giêsu  và  Mẹ  của  Ngài, đã  được  làm  phép  trọng  thể, thì  không  chỉ  được  dùng  như   là  để  trang  trí, mà  phải  có  một  vai  trò  trong phụng  vụ, như  sách  Kinh  Thánh. 
     - Làm  sao  cho  công  trình  xây  dựng  dành  cho  việc  phượng  tự  không  xa  lạ  với  người  ngoại  giáo, nó  còn  là  dấu  chỉ  hiện  diện  của  Chúa  Kitô, và  là   ngôi  nhà  thờ  của  người  nghèo,  có  đủ  những  đặc  điểm  như : tính  đơn  giản,  chân  lý  và  sự  khó  nghèo.


       3. Lần  phát  biểu  thứ  ba  của  Đức  cha  là   ngày  19  tháng  11  năm  1962, về  lược  đồ  tín  lý  các  nguồn  gốc  Mạc  Khải. Ngài  đưa  ra  những  ý  kiến   nghiêm  khắc  về  lược  đồ  này. Ngài  nói  có  nhìều  đìều  đã  được  khẳng  định  không  làm  thỏa  mãn, chẳng  hạn  như  những  điều  có  liên  quan  đến  sự  không  thể  sai  lầm  và  linh  ứng  trong  Kinh  Thánh. Cựu  Ước  và  Tân  Ước  cũng  chưa  đủ  nối  kết  lại  với  nhau.  Lược  đồ  này  còn  tạo  ra   ngờ  vực  đối  với  những  ai  miệt  mài  trong  công  việc  nghiên  cứu. Tinh  thần  mà  lược  đồ  này  được  cưu  mang  cho  thấy   có  một  sự  giữ  thế  thủ, điều  này  không   thích  hợp  với  Công  Đồng. Ngài  nói  không  thể  sửa  đổi  luợc  đồ  này. Trước  khi  chuyển  qua  nghiên  cứu  các  đề  mục, cần  phải  tiến  hành  việc  bỏ  phiếu.


         Ngoài  ba  lần  phát  biểu  trên, Đức  cha  Paul  Seitz  còn  có  khoảng  12  bài  tham  luận  tại  Công  Đồng  về  các  lược  đồ  khác : nhất  là  lược  đồ  về  Giáo  Hội, rồi  về  Đại  Kết, Tông  Đồ  Giáo  Dân,  Đời  Sống  và  Sứ  Vụ  Linh  Mục, về  các  Giáo  Hội  Công  Giáo  Đông  Phương, Tự  Do  Tôn  Giáo, Giáo  Hội  trong  Thế  Giới  Ngày  Nay, về  Hoạt  Động  Truyền  Giáo  của  Giáo  Hội. Ngài  chủ  yếu  phê  bình  tất  cả  các  lược  đồ  này  là  không  đủ  ăn  khớp  với  Hiến  Chế  về  Giáo  Hội  Lumen  Gentium, là  Hiến  Chế  tín  lý  chỉ  đạo  các  lược  đồ  khác.


Trích “Interventions  des  Pères   conciliaires   MEP                                                                                                          au  Concile  Vatican  II”  LM  J-B  Itcaina, MEP
                                                                                     LM Phil. Nguyễn Hữu Tiến  chuyển  ngữ

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

TIN TỨC & BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI

TIỂU SỬ ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI



Đức Bênêđictô XVI sinh ngày 16-4-1927 (Thứ Bảy Tuần Thánh) tại Marktl am Inn, thuộc giáo phận Passau, Đức quốc, và được rửa tội ngay ngày hôm đó. Cha của ngài là một nhân viên cảnh sát, xuất thân từ gia đình nông dân. Mẹ của ngài trước khi kết hôn từng làm nghề nấu nướng trong một số khách sạn. Một gia đình công giáo bình dân và đạo đức.

Thời thơ ấu và thiếu niên của Đức Bênêđictô XVI trôi qua êm ả ở Traunstein, một ngôi làng nhỏ gần biên giới Đức-Áo, cách Salzburg 30 cây số. Chính nơi đây, ngài nhận được nền giáo dục căn bản về nhân bản, văn hóa và đức tin Kitô giáo.

Tuổi thanh niên của ngài rơi vào một giai đoạn khó khăn của xã hội. Chế độ Đức quốc xã có thái độ thù nghịch với Giáo hội Công giáo. Chàng thanh niên Joseph Ratzinger tận mắt chứng kiến cảnh các linh mục bị đánh đập trước khi dâng lễ. Cũng chính trong giai đoạn này, ngài khám phá ra vẻ đẹp và chân lý nơi Chúa Kitô, phần lớn là nhờ ảnh hưởng của gia đình luôn sống tốt lành và cậy trông vào Chúa, gắn bó với Giáo hội trong mọi hoàn cảnh.

Từ năm 1946–1951, ngài học Triết và Thần học tại Freising và đại học München. Ngày 29-6-1951, ngài thụ phong linh mục, và một năm sau, bắt đầu dạy học ở trường Cao đẳng Freising.

Năm 1953, ngài nhận bằng Tiến sĩ thần học với luận án Dân Chúa và Nhà Chúa trong tư tưởng của Augustinô về Giáo hội.

Bốn năm sau, dưới sự hướng dẫn của Gottlieb Söhngen, một giáo sư nổi tiếng về Thần học cơ bản, linh mục Joseph Ratzinger nhận thêm một bằng Tiến sĩ với luận án về Thời gian và Lịch sử theo thánh Bônaventura.

Sau khi dạy Thần học cơ bản và Tín lý tại Freising, ngài tiếp tục dạy ở Bonn từ 1959–1963; tại Münster từ 1963–1966, và tại Tübingen từ 1966–1969. Trong năm 1969, ngài dạy về Tín lý và Lịch sử tín điều tại đại học Regensburg, đồng thời là Phó Viện trưởng tại đây.

Từ năm 1962–1965, ngài góp phần đáng kể cho Công đồng Vaticanô II trong tư cách chuyên viên, là cố vấn thần học cho Đức hồng y Joseph Frings, Tổng giám mục Köln (Cologne). Với những hoạt động trí thức phong phú, ngài được đề nghị làm việc cho Hội đồng Giám mục Đức cũng như cho Ủy ban thần học quốc tế.

Năm 1972, cùng với Hans Urs von Balthasar và nhiều nhà thần học nổi tiếng khác, ngài khởi xướng tạp chí thần học Communio (Hiệp Thông).

Ngày 25-3-1977, Đức Phaolô VI đặt ngài làm Tổng giám mục München và Freising. Ngài chọn khẩu hiệu “Người cộng tác của Chân lý”, và ngài giải thích: “Một đàng, khẩu hiệu này diễn tả mối tương quan giữa công việc trước đây của tôi, trong tư cách giáo sư, và nhiệm vụ mới. Cách tiếp cận khác nhau nhưng điều chính yếu vẫn là phục vụ chân lý. Đàng khác, tôi chọn khẩu hiệu này vì trong thế giới ngày nay, dường như chân lý bị bỏ quên và bị coi như cái gì đó quá lớn lao đối với con người, tuy nhiên nếu không có chân lý thì mọi sự đều sụp đổ”.

Cũng trong năm 1977, tại Công nghị hồng y vào ngày 27-6, Đức Phaolô VI nâng ngài lên hàng hồng y.

Năm 1978, Đức hồng y Joseph Ratzinger tham dự Mật tuyển viện bầu Đức giáo hoàng Gioan Phaolô I (ngày 25–26 tháng 8). Đến tháng 10, ngài lại dự Mật tuyển viện bầu Đức Gioan Phaolô II.

Năm 1980, tại Thượng Hội đồng Giám mục thế giới về đề tài “Sứ vụ của gia đình Kitô giáo trong thế giới ngày nay”, ngài đóng vai trò điều phối (relator). Trong Thượng Hội Đồng năm 1983 về “Hòa giải và sám hối”, ngài ở trong Chủ tọa đoàn.

Ngày 25-11-1981, Đức Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh và Ủy ban Thần học. Ngày 15-2-1982, ngài từ giã Tổng giáo phận München và Freising để về làm việc tại Rôma.

Trong thời gian làm Bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức hồng y Joseph Ratzinger cũng là Chủ tịch Ủy ban biên soạn Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công giáo, được chính thức công bố vào năm 1992.

Trong những tác phẩm của ngài đã được xuất bản (trước khi làm giáo hoàng), người ta chú ý đặc biệt đến cuốnDẫn vào Kitô giáo là tổng hợp những bài thuyết trình của ngài về Kinh Tin Kính; cuốn Tín điều và Giảng thuyết(1973) là tổng hợp những bài viết, bài giảng và suy niệm. Ngoài ra, những cuốn sách được thực hiện dưới dạng phỏng vấn, như The Ratzinger Report (1985) về tình hình đức tin trong thế giới ngày nay, Muối cho đời (1996), đã thu hút sự quan tâm của độc giả trên toàn thế giới.




Sau khi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II qua đời, các hồng y đã triệu tập Mật tuyển viện, và ngày 19-4-2005, Đức hồng y Joseph Ratzinger được bầu làm Giáo hoàng, lấy tước hiệu là Bênêđictô XVI. Lời đầu tiên vị tân giáo hoàng gửi đến toàn thể thế giới là: “Anh chị em thân mến, sau vị giáo hoàng vĩ đại Gioan Phaolô II, các hồng y đã bầu chọn tôi, một người thợ đơn sơ và khiêm hạ làm việc trong vườn nho của Chúa. Tôi cảm thấy được an ủi vì niềm tin rằng Chúa có thể làm việc và hành động ngay cả với những phương thế bất toàn, và trên hết mọi sự, tôi phó thác mình cho lời cầu nguyện của anh chị em”.

Trong Thánh Lễ khai mạc sứ vụ giáo hoàng, Đức Bênêđictô XVI nói với mọi người tham dự và với cả thế giới: “Mọi ý thức hệ về quyền lực đều hành động như nhau. Những ý thức hệ ấy biện minh cho việc tiêu diệt bất cứ cái gì có thể cản đường tiến bộ và giải phóng nhân loại. Còn Thiên Chúa, Đấng đã nên Chiên (xá tội), lại nói với chúng ta rằng: thế giới được cứu độ nhờ Đấng chịu đóng đinh trên thập giá, chứ không phải nhờ những kẻ đóng đinh tha nhân”. Rồi ngài nói thêm: “Xin cầu nguyện cho tôi để tôi không vì sợ hãi sói dữ mà bỏ trốn”.

NHỮNG DẤU ẤN TRONG TRIỀU ĐẠI GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI
Được bầu làm giáo hoàng khi đã bước vào tuổi 78, Đức Bênêđictô XVI đã tâm sự với những người thân cận rằng, do tuổi tác và sức khỏe, có lẽ ngài không thể theo gương Đức Gioan Phaolô II trong những chuyến thăm mục vụ khắp thế giới. Thế nhưng ngài mau chóng nhận ra rằng cách tốt nhất để vươn tới mọi người là đi đến với họ, vì thế ngài đã cố gắng thực hiện, trước hết là có mặt tại Đại hội Giới Trẻ thế giới được tổ chức tại Đức, chỉ vài tháng sau khi ngài làm giáo hoàng. Trong 5 năm đầu của triều đại giáo hoàng, ngài đã đi đến 5 châu lục, 14 quốc gia, qua quãng đường 60.000 kilômét. Ngài hiểu được sức mạnh của báo chí và truyền thông, và biết rằng nếu ngài đi đến với những người nghèo ở châu Phi thì giới truyền thông cũng đi theo. Qua họ, cả thế giới sẽ nhìn thấy tình trạng nghèo khổ ở đó và hố phân cách giàu nghèo trên trái đất này, để ý thức hơn và góp phần thay đổi.

Ngay từ khi lãnh nhận sứ vụ Thánh Phêrô, Đức Bênêđictô XVI đã bày tỏ mối quan tâm đặc biệt về vấn đề đại kết. Trong Thánh Lễ đầu tiên với tư cách Giáo hoàng, cử hành tại Nhà nguyện Sistine, ngày 20-4-2005, ngài đã khẳng định đại kết là mối quan tâm hàng đầu, và ngài sẵn lòng “làm việc không mệt mỏi nhằm tái lập sự hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình giữa các tín hữu Chúa Kitô”. Những tiến triển sau đó trong mối liên hệ của Tòa Thánh Rôma với Giáo hội Chính Thống, Luther, Anh giáo… cần được nhìn trong viễn tượng này.

Đức Bênêđictô XVI cũng là vị giáo hoàng của Công đồng Vaticanô II. Ngài đã có mặt tại Công đồng ngay từ đầu. Khi đó, Joseph Ratzinger còn là một linh mục trẻ 35 tuổi nhưng đã là một giáo sư thần học có tiếng tăm, được Đức hồng y Jospeh Frings của Köln chọn làm cố vấn thần học, sau đó được chọn làm chuyên viên của Công đồng. 50 năm sau, khi đã là giáo hoàng và đưa ra quyết định từ nhiệm, một trong những bài thuyết trình cuối cùng của ngài là bài nói chuyện với hàng giáo sĩ Rôma, và đề tài là về Công đồng Vaticanô II, khởi đi từ những kinh nghiệm và suy tư cá nhân của ngài. Nhắc lại những sự kiện trên để thấy Đức Bênêđictô XVI là vị giáo hoàng gắn bó với Công đồng, và điều ngài thường xuyên nhấn mạnh khi nói đến các văn kiện của Công đồng là là tính liên tục. Vaticanô II không phải là sự đoạn tuyệt với quá khứ nhưng là sự tiếp nối dòng chảy miên man của đức tin Kitô giáo trong đời sống Giáo hội. Những cải tổ phụng vụ, suy tư thần học, hoặc canh tân mục vụ cần được thực hiện trong tầm nhìn này; nếu không, không thể giải thích và áp dụng cách đúng đắn tinh thần của Công đồng.

Đức Bênêđictô XVI cũng làm nổi bật vai trò giáo huấn của Tòa Thánh Phêrô. Là một học giả và giáo sư lỗi lạc, ngài tiếp tục công việc này đặc biệt qua những bài dạy giáo lý hằng tuần và những bài giảng, những diễn văn sâu sắc trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Ngài còn dành thời giờ nghỉ ngơi thư giãn tại Castel Gandolfo để hoàn tất tác phẩm đồ sộ Đức Giêsu thành Nazareth. Cách riêng, ngài đã lưu lại cho Giáo hội 3 thông điệp quan trọng.

Thông điệp đầu tiên của Đức Bênêđictô XVI là Deus caritas est, tóm kết giáo huấn của ngài về tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta là nền tảng cho đời sống và dẫn đến những câu hỏi quan trọng của đức tin: Thiên Chúa là ai? Chúng ta là ai? Vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, nên yêu thương không chỉ đơn thuần là điều răn phải giữ, nhưng là sự đáp lại của chúng ta trước tình yêu của Chúa. Tình yêu ấy bao gồm toàn bộ đời sống con người. Trong tình yêu, phải biết cho đi và cũng biết đón nhận. Khi người Kitô hữu sống thân tình với Chúa, họ học nhìn người khác bằng cặp mắt của Chúa: “Nhìn bằng cặp mắt của Chúa Giêsu, tôi có thể trao tặng người khác những gì lớn lao hơn những nhu cầu bên ngoài, tôi có thể trao cho họ cái nhìn yêu thương mà họ khao khát”.

Thông điệp Spe salvi về niềm hi vọng Kitô giáo trình bày Chúa Giêsu như cội nguồn hi vọng mà nhân loại đang khao khát. Đức Thánh Cha nhận định rằng không có phương thế nhân loại nào có thể sửa lại những sai lầm khủng khiếp trong lịch sử nhân loại, như việc tàn sát người Do Thái, những tai họa trong thiên nhiên, chiến tranh và khủng bố. Không có phương thế nhân loại nào có thể mang lại sự công bằng trọn vẹn: “Không ai và không điều gì có thể trả lời cho những thế kỷ của khổ đau”. Chỉ nơi Chúa Giêsu mới có sự phục sinh thân xác, mới có công bằng trọn vẹn, và mọi giọt lệ mới được lau đi.

Caritas in veritate là thông điệp xã hội, cố gắng vượt lên trên sự tương phản người ta thường nêu lên giữa công bằng và bác ái, linh đạo và phát triển, đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội, mối quan tâm của những nước giàu và nhu cầu của những nước nghèo. Đức Thánh Cha nhắc nhớ chúng ta rằng những đòi hỏi của tình yêu mang cả hai chiều kích cá nhân và xã hội. Tình yêu phải được áp dụng cho những quan hệ ở tầm vi mô (với bạn bè, với gia đình, trong nhóm nhỏ), cũng như những quan hệ ở tầm vĩ mô (xã hội, kinh tế, chính trị). Ngài phê phán thứ kinh tế thị trường mà thiếu công bằng, hỗ trợ việc giúp đỡ các nước nghèo, kêu gọi thiết lập những cấu trúc quốc tế để giải quyết tình trạng đói nghèo trên thế giới. Ngài kêu gọi tôn trọng môi sinh vì chúng ta cư xử với thiên nhiên thế nào thì thiên nhiên cũng ứng xử với chúng ta như thế. Cũng vậy, không tôn trọng quyền sống của tha nhân sẽ làm suy yếu lương tâm của xã hội, dẫn đến những hậu quả khó lường.

Chắc chắn những thông điệp này là những di sản tinh thần quý giá mà các tín hữu công giáo cần đón nhận và tiếp tục đào sâu trong suy tưởng cũng như ứng dụng trong thực hành.

TUYÊN BỐ TỪ NHIỆM VÀ NHỮNG CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TỪ NHIỆM
Ngày 11 tháng 2 năm 2013, Đức Bênêđictô XVI ngỏ lời với các hồng y hiện diện về quyết định từ nhiệm của ngài. Quyết định này đã gây ngỡ ngàng cho toàn thể thế giới. Sau đây là toàn văn tuyên bố của Đức Thánh Cha.

“Chư huynh thân mến,

Tôi triệu tập chư huynh đến Công nghị này, không những vì ba lễ tuyên phong hiển thánh, nhưng còn để thông báo với chư huynh một quyết định có tầm quan trọng lớn lao cho đời sống của Hội Thánh. Sau khi liên lỉ xét mình trước Nhan Thiên Chúa, tôi chắc chắn rằng sức khỏe của tôi, do tuổi cao, không còn phù hợp với việc thi hành cách trọn vẹn sứ vụ của Thánh Phêrô. Tôi biết rất rõ rằng sứ vụ này, do bản chất thiêng liêng của nó, phải được thi hành không chỉ bằng lời nói và hành động, nhưng còn bằng cầu nguyện và chịu đau khổ. Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, một thế giới có quá nhiều thay đổi mau chóng, một thế giới đặt ra những vấn đề khẩn thiết cho đời sống đức tin, để cai quản con thuyền của Thánh Phêrô và để loan báo Tin Mừng, cần có sức khỏe cả tinh thần lẫn thể xác; và trong ít tháng qua, tôi thấy sức khỏe sa sút đến mức không thể chu toàn sứ vụ được trao phó cho tôi cách cân xứng. Vì lý do đó, với ý thức rất rõ về tính nghiêm trọng của quyết định này, cùng với tất cả tự do, tôi từ nhiệm sứ vụ Giám mục Rôma, Người kế vị Thánh Phêrô, sứ vụ mà các Đức hồng y đã trao cho tôi từ ngày 19 tháng 4 năm 2005. Do đó, kể từ 20g00 ngày 28 tháng 2 năm 2013, Tòa Rôma, Tòa Thánh Phêrô, sẽ trống và Mật Tuyển viện sẽ được triệu tập do các vị có thẩm quyền.

Chư huynh thân mến, tôi chân thành cảm ơn những việc chư huynh đã làm để nâng đỡ tôi trong sứ vụ, và xin chư huynh tha thứ cho những khiếm khuyết của tôi. Giờ đây, chúng ta hãy trao phó mọi sự cho sự chăm sóc của Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử tối cao của chúng ta, và khẩn nài Đức Thánh Maria, để ngài nâng đỡ chúng ta bằng tình thương mẫu tử của ngài, trong việc tuyển chọn vị Giáo Hoàng mới. Về phần tôi, tôi xin hết lòng phục vụ Hội Thánh trong tương lai qua đời sống tận hiến cho việc cầu nguyện”.

NHỮNG CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN

VIỆC TỪ NHIỆM CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI


1. Khi nào Đức Bênêđictô XVI sẽ xuất hiện lần cuối trong tư cách Giáo hoàng?

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI sẽ xuất hiện lần cuối với tư cách Giáo hoàng trong buổi tiếp kiến chung, ngày 27-2-2012, tại Quảng trường Thánh Phêrô. Cách đặc biệt, buổi tiếp kiến này sẽ gồm phần Phụng Vụ Lời Chúa và những giây phút cầu nguyện. Ngày kế tiếp, thứ Năm 28-2, ngài sẽ có buổi tiếp kiến riêng dành cho một số hồng y. Đây sẽ là buổi tiếp kiến cuối cùng.

2. Đức Bênêđictô XVI có bị bệnh gì trầm trọng không?

Không, Đức Bênêđictô XVI không bị bệnh gì trầm trọng.

3. Có thật là Đức Bênêđictô XVI phải gắn máy trợ tim?

Đúng, Đức Bênêđictô XVI có gắn máy trợ tim. Ngài đã mang máy này từ khi còn là Bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin. Cách đây ít tuần, máy này mới được thay pin.

4. Thông điệp về đức tin mà Đức Bênêđictô XVI đã viết có được xuất bản không?

Không. Không có kế hoạch xuất bản thông điệp này vì ngài không thể hoàn tất. Sau này, nếu ngài quyết định xuất bản thì bản văn đó không được coi như một thông điệp.

5. Tại sao Đức Bênêđictô XVI lại chọn thời điểm 20g00 ngày 28-2 để chấm dứt sứ vụ Giáo hoàng?

Vì thông thường đó là thời gian ngài kết thúc một ngày làm việc.

6. Đức Bênêđictô XVI sẽ sống ở đâu sau khi ngài từ nhiệm?

Trong khoảng thời gian hai tháng đầu, ngài sẽ nghỉ tại Castel Gandolfo. Sau đó ngài sẽ trở về Vatican và sống trong tu viện kín Mater Ecclesiae (Mẹ Hội Thánh).

7. Có phải Đức Bênêđictô XVI đã có quyết định từ nhiệm trong chuyến thăm Mêhicô?

Đức Bênêđictô XVI đã suy nghĩ và phân định từ lâu về việc từ nhiệm này. Trong chuyến thăm mục vụ tại Mêhicô và Cuba, suy nghĩ này đạt đến mức rõ nét. Tuy nhiên, chính chuyến đi không phải là lý do dẫn đến việc từ nhiệm.

8. Sau ngày 28-2, Đức Bênêđictô XVI sẽ mang danh hiệu và tước hiệu gì?

Đây là vấn đề vẫn còn đang được suy nghĩ. Ý kiến chung cho rằng ngài nên giữ danh hiệu Bênêđictô XVI, và tước hiệu là “Giám mục hưu của Rôma” (emeritus). Trong Niên giám giáo hoàng, danh hiệu Bênêđictô XVI vẫn được dùng.

9. Đức Bênêđictô XVI có dự Mật tuyển viện để bầu Giáo hoàng mới không?

Không. Đức Bênêđictô XVI sẽ không dự Mật tuyển viện để bầu Giáo hoàng mới, và ngài cũng không phải là thành viên của Hồng y đoàn.

10. Sau ngày 28-2, Đức Bênêđictô XVI sẽ mặc phẩm phục ra sao?

Chúng ta vẫn chưa biết rõ về việc này.

11. Giáo Hội có dự trù việc từ nhiệm của một Giáo hoàng không?

Có, việc từ nhiệm của Giáo hoàng đã được Bộ Giáo Luật trù liệu và quy định.

12. Sự kiện rò rỉ thông tin của Vatican, quen gọi là Vatileak, phải chăng đã tác động lên quyết định của Đức Giáo hoàng?

Không. Nếu muốn có thông tin đúng đắn, cần phải đọc những gì chính Đức Giáo hoàng nói về sự từ nhiệm của ngài.

13. Khi nào sẽ bắt đầu Mật tuyển viện?

Mật tuyển viện có lẽ sẽ bắt đầu khoảng từ 15–20 tháng Ba.

14. Trong tuần cuối cùng này, Đức Bênêđictô XVI có những thay đổi gì cho việc bầu Giáo hoàng mới không?

Không, trong thời gian vừa qua, Đức Bênêđictô XVI không đưa ra những thay đổi nào cho việc bầu Giáo hoàng. Năm 2007, ngài đã đưa ra một thay đổi nhỏ nhằm bảo đảm vị Giáo hoàng mới phải đạt được 2/3 số phiếu bầu trong Mật tuyển viện. Ngoài ra, những quy định của Tông hiến Universi Dominici Gregis vẫn được giữ nguyên.

15. Phải chăng có những đấu tranh quyền lực tại Vatican?

Trong mọi tổ chức đều có những ý kiến khác nhau và đây là điều tốt. Sự khác biệt và đa dạng về ý kiến là điều tích cực, nếu đem lại thiện hảo cho chính tổ chức đó. Tuy nhiên không nên quá nhấn mạnh đến những khác biệt đó vì nó không đúng với thực tế và ý hướng của người trong cuộc. Sẽ không đúng với thực tế của Giáo hội hiện nay nếu nói rằng đang có những đấu tranh quyền lực tại Vatican.

16. Đức Bênêđictô XVI sẽ gặp Đức Giáo hoàng mới không?

Không có dự trù cho việc gặp gỡ này.

17. Tại sao Đức Bênêđictô XVI lại quyết định ở lại Vatican mà không về lại quê hương của ngài là Bavaria, Đức quốc?

Dù Đức Bênêđictô XVI không giải thích rõ ràng, nhưng sự hiện diện và cầu nguyện của ngài tại Vatican đem đến sự liên tục thiêng liêng cho sứ vụ giáo hoàng. Hơn nữa, Đức Bênêđictô XVI đã sống ở Vatican từ hơn 30 năm nay.


[Nguồn: zenit.org]

BẦU GIÁO HOÀNG MỚI
Khi một vị giáo hoàng qua đời hoặc từ nhiệm, việc điều hành Giáo hội được trao cho Hồng y đoàn. Các hồng y là những giám mục đang coi sóc các giáo phận trên khắp thế giới, hoặc đang làm việc tại Vatican, là những vị được đích thân Đức giáo hoàng tuyển chọn. Trách nhiệm lớn nhất của các ngài là bầu chọn vị giáo hoàng mới.
Trong giai đoạn “trống tòa”, các hồng y tiến hành nhiều cuộc họp tại Vatican, được gọi là họp khoáng đại. Các ngài bàn luận về những nhu cầu và thách đố Giáo hội đang phải đối diện. Các ngài cũng chuẩn bị cho việc bầu giáo hoàng mới, được gọi là Mật tuyển viện. Những quyết định chỉ dành riêng cho Đức giáo hoàng, ví dụ bổ nhiệm giám mục hay triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục, những việc này phải đợi đến khi bầu cử xong.

Nhớ lại Mật tuyển viện năm 2005, Đức hồng y Joseph Ratzinger (vị giáo hoàng tương lai) đã chia sẻ với các hồng y những suy tư gây ấn tượng sâu đậm. Ngài nói:

Biết bao nhiêu ngọn gió học thuyết đã xuất hiện trong những thập niên gần đây, biết bao dòng ý thức hệ, biết bao hình thái tư tưởng… Con thuyền bé nhỏ của nhiều Kitô hữu thường xuyên bị lay động vì những ngọn sóng này, lắc lư từ thái cực này sang thái cực khác, từ chủ nghĩa Mác-xít đến chủ thuyết tự do, từ chủ trương tập thể đến chủ nghĩa cá nhân cực đoan, từ vô thần đến thứ huyền bí mơ hồ, từ bất khả tri đến chiết trung và còn nhiều thứ khác. Những giáo phái mới mọc lên từng ngày… Tuyên xưng đức tin rõ ràng theo như Kinh Tin Kính của Hội Thánh lại bị cho là bảo thủ cực đoan. Đang khi đó chủ nghĩa tương đối, nghĩa là cho phép người ta chiều theo bất cứ ngọn gió học thuyết nào, xem ra được coi như thái độ duy nhất thích hợp với con người hiện đại. Cái đang được kiến tạo ở đây chính là sự độc tài của chủ nghĩa tương đối, vốn cho rằng chẳng có gì là vững chắc, và xem cái tôi của mình, khao khát của mình, là chuẩn mực tối hậu.

Tuy nhiên chúng ta có một chuẩn mực khác, đó là Con Thiên Chúa và là con người thật sự. Người là chuẩn mực của nền nhân bản chân chính. Một đức tin không trưởng thành sẽ mãi chạy theo những làn sóng thời trang mới mẻ, còn đức tin trưởng thành và chín chắn được bắt rễ sâu xa trong tình thân với Chúa Kitô. Chính tình thân này mở ra cho chúng ta tất cả những gì là tốt lành, ban cho chúng ta tiêu chuẩn để phân định cái thật với cái giả, chân lý và giả dối. Chúng ta phải chín muồi trong đức tin trưởng thành này, và chúng ta muốn dẫn đoàn chiên của Chúa Kitô đến đức tin trưởng thành ấy. Chính đức tin ấy – và chỉ có đức tin ấy – mới tạo nên sự hiệp nhất và thực hiện sự hiệp nhất trong đức ái. Ở đây, thánh Phaolô cống hiến cho chúng ta một từ ngữ rất đẹp: sống chân lý trong đức ái, như là công thức nền tảng của đời sống Kitô giáo. Trong Chúa Kitô, chân lý và tình yêu hội tụ. Chúng ta càng đến gần Chúa Kitô bao nhiêu thì chân lý và tình yêu càng vững chắc nơi chúng ta bấy nhiêu. Tình yêu không có chân lý là thứ tình yêu mù quáng; chân lý không có tình yêu chỉ là thanh la chũm chọe!”

Rồi ngài nói thêm:

Ai cũng muốn kiếm tìm những gì bền vững. Nhưng cái gì tồn tại mãi? Không phải tiền bạc. Những dinh thự cũng chẳng tồn tại mãi, sách vở cũng thế. Sau một thời gian nào đó, lâu hay chóng, mọi thứ đều tan biến. Điều duy nhất tồn tại đến vĩnh hằng là linh hồn của con người được Thiên Chúa tạo dựng để sống vĩnh hằng. Do đó hoa trái tồn tại mãi mà chúng ta phải gieo trồng nơi linh hồn con người là tình yêu và sự hiểu biết, là những cử chỉ chạm đến lòng người, là những lời lẽ mở lòng người ra với niềm vui của Thiên Chúa. Vì thế chúng ta hãy cầu xin Chúa để Ngài giúp chúng ta trổ sinh hoa trái, thứ hoa trái tồn tại mãi. Chỉ bằng cách đó, trái đất này mới được biến đổi từ thung lũng nước mắt thành địa đàng của Thiên Chúa”.

Thông thường, sau 15 – 20 ngày kể từ khi trống tòa, các hồng y quy tụ tại Đền thờ Thánh Phêrô để dâng Thánh Lễ, xin ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn cho việc bầu chọn vị giáo hoàng mới. Chỉ có các hồng y dưới 80 tuổi mới được bỏ phiếu trong Mật tuyển viện. Con số các vị này được giới hạn ở 120. Mật tuyển viện bắt đầu khi các hồng y được rước vào Nhà nguyện Sistine và có lời thề giữ bí mật tuyệt đối trước khi cửa Nhà nguyện được niêm phong. Các hồng y sẽ đọc chung lời thề sau:

Chúng tôi, các hồng y cử tri, tập thể và cá nhân, hiện diện trong lần bầu chọn Giáo hoàng này, xin đoan thề và tuyên hứa tuân giữ cách trung thành và tỉ mỉ những điều khoản trong Tông thư Universi Dominici Gregis.

Chúng tôi đoan thề và tuyên hứa rằng bất cứ ai trong chúng tôi, theo sự an bài của Chúa, được bầu làm Giáo hoàng, sẽ trung thành đảm nhận sứ vụ Thánh Phêrô, làm Mục tử của Hội Thánh phổ quát, và kiên vững khẳng định, bảo vệ những quyền và tự do về mặt thiêng liêng cũng như trần thế của Tòa Thánh.

Trên hết mọi sự, chúng tôi đoan thề và tuyên hứa sẽ giữ tuyệt đối bí mật về tất cả những gì liên quan đến việc bầu giáo hoàng, cũng như những gì diễn ra tại nơi bầu chọn, trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến kết quả bỏ phiếu; chúng tôi hứa sẽ không tiết lộ bí mật này bằng bất cứ cách nào, trong hoặc sau khi bầu vị giáo hoàng mới, trừ khi được Đức giáo hoàng minh nhiên cho phép; chúng tôi hứa không bao giờ hỗ trợ cho bất cứ hình thức can thiệp hoặc chống đối nào, qua đó các quyền bính thế tục hoặc các nhóm hoặc những cá nhân có thể can thiệp vào việc bầu giáo hoàng”.

Tiếp theo lời thề chung, từng hồng y sẽ tiến đến trước Sách Phúc Âm, được đặt giữa Nhà nguyện, và nói thêm:

Và tôi, hồng y …… xin đoan thề và tuyên hứa như thế, xin giúp con, lạy Chúa và Sách Phúc Âm mà con chạm tay tới”.

Các hồng y bỏ phiếu kín, từng người một tiến đến trước bức danh họa của Michelangelo về Ngày Phán Xét, dâng lời cầu nguyện và bỏ lá phiếu của mình. Mỗi ngày có 4 lần bỏ phiếu, cho đến khi một ứng viên nhận được 2/3 số phiếu bầu. Kết quả của mỗi vòng bỏ phiếu được xướng lên và được 3 hồng y ghi nhận. Nếu không có vị nào đạt được 2/3 số phiếu bầu, thì những phiếu này được đem đốt, trộn với hóa chất, tạo nên khói đen. Mọi người bên ngoài nhìn vào luồng khói đen thì biết là chưa có kết quả.

Khi một ứng viên nhận được 2/3 phiếu bầu, hồng y niên trưởng của Hồng y đoàn sẽ hỏi xem ngài có chấp nhận hay không. Nếu ngài chấp nhận, ngài sẽ chọn tước hiệu và mặc phẩm phục giáo hoàng trước khi tiến ra bao lơn trước Đền thờ Thánh Phêrô. Những phiếu bầu trong vòng cuối cùng được trộn với hóa chất để cho khói trắng, báo hiệu cho cả thế giới biết việc bầu giáo hoàng mới đã hoàn tất.

Vị hồng y niên trưởng trong số các hồng y phó tế, hiện nay là hồng y Jean-Louis Tauran (người Pháp), sẽ loan báo từ bao lơn của Đền Thánh Phêrô: “Habemus papam” (Chúng ta có giáo hoàng). Sau đó Đức Tân Giáo Hoàng tiến ra và ban phép lành cho thành Rôma và toàn thế giới (urbi et orbi).     

WHĐ