Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Đừng Làm Đau Nàng Mỵ Châu Thêm Nữa!

Hà văn Thùy


Không biết đã bao lần, mỗi khi quốc gia hữu sự, những người nông nổi lại đưa nàng Mỵ Châu ra làm bung xung để trút vào đó nỗi hận của mình. Trước đây là Tố Hữu:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu.
Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi cơ đồ đắm vực sâu!

Hôm nay là ông Chinh Văn:

một nghìn năm đô hộ
nay đổi "tám chữ vàng"
chẳng hận thằng Trọng Thủy
chỉ trách nàng Mỵ Châu
(tráo trở*)

Những dòng chữ như thế không chỉ thể hiện tri thức lịch sử lệch lạc mà còn phản ánh óc thẩm văn thô thiển của người viết. Một nỗi nhục của người Việt vì không hiểu nổi lịch sử và văn hóa của mình!

Qua bài viết này, tôi muốn rằng, những ai còn nghĩ như vậy xin học lại lịch sử và đừng làm oan, làm đau thêm nàng Mỵ Châu tội nghiệp!
*
I. Thục Phán là ai?

Trước hết, cần nhìn lại lịch sử.
Tuy đặt ra “Kỷ nhà Thục” nhưng về nhân thân của Thục Phán, sách Toàn thư chỉ ghi vắn tắt: “Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa).” Do không hiểu được những dòng chữ quá cô đọng này, sách Việt sử thông giám cương mục viết: “Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì còn vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc, Nhiễm Mang… cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh Văn Lang?... Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang còn có họ Thục khác, mà sử cũ (Toàn thư) nhận là Thục vương chăng (ĐVSKTT, tập 1, trang 179. NXB Văn hóa thông tin-2000).

Mối nghi ngờ của Cương mục đã gợi cho một vài người đưa ra ý tưởng cho rằng họ Thục là thủ lĩnh của nhóm Âu Việt hay Tây Âu vùng Cao Bằng. Một vài người khác phủ định nguồn gốc Ba Thục rồi dựa vào địa danh trong truyền thuyết để cho rằng họ Thục là chủ của vùng Yên Bái-Đào Thịnh: “Trước đây có nhận định cho rằng, Thục Phán là người của nước Ba Thục - một quốc gia cổ đại của Trung Hoa thuộc vùng Tứ Xuyên (Trung Quốc). Tuy nhiên, với khoảng cách quá xa như vậy, Thục Phán không thể nào cất quân xa đến 500 - 700km hiểm trở để đánh nhau với Hùng Vương ở tận Phú Thọ. Vì vậy, nguồn gốc Ba Thục của Thục Phán bị loại trừ.”
“Những năm 70 của thế kỷ XX, có ý kiến cho rằng, Thục Phán quê ở Cao Bằng, vì trong truyền thuyết "Chín chúa tranh vua" lưu hành ở đây, nói Thục Phán xuất phát từ Cao Bằng cất quân đánh Hùng Vương. Nhưng các địa danh được nhắc đến trong truyền thuyết đều là những địa danh thuộc vùng Yên Bái - Nghĩa Lộ, nơi mà cách đây hơn nửa thế kỷ, giới khảo cổ học phát hiện nhiều di vật văn hóa đồng thau nổi tiếng. Tiêu biểu là thạp đồng ở Đào Thịnh, mà thạp đồng như là hiện vật tượng trưng cho những thế lực hùng mạnh nhất lúc bấy giờ.” “Các địa danh ở Cổ Loa là những bản sao của địa danh ở Yên Bái, đó là việc Thục Phán và cư dân Âu Lạc đã từ Yên Bái về Cổ Loa định cư, mang theo về đây địa danh từ quê hương phát tích của An Dương Vương và Âu Lạc.”**

Tuy nhiên, An Dương Vương là sự kiện lớn, nếu không gắn nó với lịch sử chung của khu vực mà chỉ bó hẹp trong những truyền thuyết mang tính địa phương sẽ thiếu đi cái nhìn toàn cục. Phải nhìn Thục Phán - An Dương Vương trong bối cảnh dân cư, văn hóa chính trị chung của vùng.

Nay ta có những cứ liệu chắc chắn rằng, khoảng 40.000 năm trước, người Việt cổ gồm bốn chủng là Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negretoid từ Việt Nam di cư lên khai phá Trung Hoa. Hành lang Tây Bắc Việt Nam à Vân Nam à Tứ Xuyên là con đường huyết mạch đưa văn hóa Hòa Bình lên phía Bắc. Khoảng 2600 năm TCN, đồng thời với nước của Đế Lai ở lưu vực Hoàng Hà, Xích Quỷ của Lạc Long Quân ở lưu vực Dương Tử là nước Thục ở phía Tây. Sách Toàn thư nói rõ chuyện này. Đến nay, nhờ các dữ liệu di truyền học, ta biết chắc rằng, cư dân các quốc gia, các vùng đất trên đều là người Việt. Do môi trường sống thuận lợi, lại tiếp thu sớm văn hóa Hòa Bình, vùng Ba Thục trở thành một trong những trung tâm kinh tế văn hóa hàng đầu của các tộc Việt trên đất Trung Quốc. Khảo cổ học phát hiện những công cụ đồng thau sớm chỉ sau Phùng Nguyên và rất tinh xảo cùng với những thành quách. Nước Thục có thể mất một phần lãnh thổ vào thời Thương, Chu nhưng vẫn độc lập, không thần phục nhà Chu. Đến thời Tần, nước Thục bị diệt. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục trong bài Bốn nghìn năm văn hiến (2) viết:

Theo “Hoa dương quốc chí” q.3, Thục chí: “Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Đất Thục phía đông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Ngọ và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên Phủ”. Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Điền (VânNam) và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân Nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân Nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ Xuyên với Bắc Việt chắc hẳn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường Giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc (dân mà người Hán gọi là man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên – Bắc Việt, và “Tây nam di ở Điền, Kiềm (Vân Nam, Quý Châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Điền (Vân Nam). Nước Tần chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý Châu.”
Theo Hoa dương quốc chí q.1, Ba chí viết: “Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.cn) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tàu cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi.”
“Hoa dương quốc chí” q.3 mục Thục chí viết: Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô uý Mặc cùng theo đường Thạch Ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ Dương bị quân Tần giết hại. Tướng, Phó cùng Thái tử rút lui về Bàng Hương, chết ở dưới núi Bạch Lộc, họ Khai Minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời.”
Lã Sĩ Bằng trong “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam” suy diễn sử kiện trên đây như sau: “Xét về việc vua Thục bị ở đất Vũ Dương, ngày nay là Bái Sơn vị trí ở phía nam Thành đô, tên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch Lộc ngày nay ở đâu thì không thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía bắc xuống miền Nam, tập đoàn người Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoát lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị bại ở Vũ Dương, quan Tướng, Phó, Thái tử đều chết ở núi Bạch Lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Qúy Châu và Vân Nam thuộc phạm vi thế lực người Sở… Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý Châu (Kiềm) và VânNam (Điền) thời Hán là Trường Kha là đất thuỷ lão nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, và thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương Nam tiến vào đất bình nguyên Bắc Việt, khí hậu ôn hòa, nông sản phì nhiêu, cùng với Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo Vương năm 518 (tr.cn 257) mới chinh phục được Văn Lang.”  “Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr. Tây nguyên) nước Thục mất về nước Tần, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr. Tây nguyên) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tần dần dần đi xuống phương Nam đi vào bắc bộ Việt nam, cùng với vua Hùng Vương nuớc Văn lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn lang. Và việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt, thì sách sử xưa của Tầu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần.” “Sự hiện diện của Bách bộc do Thục An Dương Vương với tập đoàn nhà Thục từ Tứ xuyên đi xuống qua Qúy Châu và Vân nam phía Tây Bắc việt ngày nay mà di tích là kiểu thành Cổ loa vốn của nước Ba thục.” (2)

Từ các tư liệu lịch sử ghi lại, ta biết, Thục là nhà nước độc lập với Văn Lang. Khối dân của cha con Thục Phán là ngoại bang nhưng đồng tộc với người Việt của Hùng Vương. Điều này phù hợp với sử sách và truyền thuyết nói họ là nhóm Âu Việt. Nhóm Âu Việt này sống ở Tây Bắc khoảng nửa thế kỷ. Những xung đột dài dài với Hùng Vương còn được ghi nhận trong truyền thuyết. Vì vậy, ta có thể đoán là nhóm người Thục không gây nên căng thẳng sắc tộc với người địa phương mà nhờ sự khôn khéo của mình, họ đã thu phục được dân địa phương, tạo sức mạnh quân sự cho mình đồng thời gây ảnh hưởng chính trị, tinh thần tới khối dân Việt của Hùng Vương. Điều này giải thích vì sao, cuộc xâm lăng chiếm đoạt ngôi vị của Thục Phán diễn ra khá êm xuôi, không để lại vết hằn trong lịch sử.
Như vậy là, trong khoảng nửa thế kỷ, từ khi nước Thục bị diệt, hậu duệ nhà Thục trốn nạn diệt vong, xuống phương Nam, theo con đường Bắc tiến của tổ tiên xưa và con đường thương mại truyền thống. Năm bảy trăm cây số không phải là quãng cách mà đội quan quân nhỏ không thể vượt qua để tìm đường sống. Tôi đoán rằng, vua Hùng chẳng thú vị gì chuyện một binh đội quan quân của nước khác đến ở nhờ. Có điều, không dễ đuổi một đội quân đã cùng đường. Và cuộc chiến giữa hai bên là không thể tránh. Ta cũng biết, để chiến thắng Hùng Duệ Vương, nhà Thục phải mất hai đời, từ Thục Chế (cha) tới con là Thục Phán mới hoàn thành.
Ký ức dân gian ghi nhận nhiều sự kiện về cuộc chiến giữa vua Hùng và giặc Thục tại vùng Vĩnh Yên, Phúc Yên, địa bàn của bộ Văn Lang xưa. Đó là truyện Hùng Lộc đại vương bị chặt đứt đầu, đã lấy vải buộc cổ lại để tiếp tục chiến đấu. Khi giặc rút thì ngã xuống chết, mối đùn lên thành đống, dân lập đền thờ. Truyện Đinh Công Tuấn đánh nhau với quân Thục Phán, tới thế cùng, nhảy xuống sông tự vẫn. Hiện ở vùng này còn ngôi miếu thờ vợ chồng thầy giáo hy sinh trong việc chống lại quân Thục.
Từ sự kiện lịch sử có thực đó, ta có thể đặt câu hỏi: vì sao người Lạc Việt dễ dàng chấp nhận cuộc xâm lăng của ngoại bang, xóa bỏ triều đại Hùng Vương kéo dài hàng nghìn năm, gắn bó với họ sâu nặng trong nhiều truyền thuyết tạo rường cột của văn hóa Lạc Việt? Theo thiển ý, có thể là, do trị vì quá lâu, dòng Hùng Vương suy đồi, không đáp ứng nổi những đòi hỏi của cuộc sống. Trước những biến chuyển mới của thời đại, cần phương cách lãnh đạo mới. Thục Phán có lẽ là người đáp ứng được đòi hỏi này. Vì vậy, khi cuộc xâm lăng xảy ra, sức chống trả của người Lạc Việt không thật dữ dội. Và sau khi nắm quyền, với tài năng của mình, ông khéo léo lãnh đạo dân chúng Việt qua các lạc hầu lạc tướng, tạo sức mạnh trong việc dời đô về Cổ Loa và chuẩn bị chống quân Tần.

II. Triệu Đà là ai?
1. Những quan niệm truyền thống
Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Đà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đếĐại Việt sử ký toàn thư ghi: "Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng". Sử gia Lê Văn Hưu viết: "Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy". Trong An Nam chí lược, Lê Tắc ghi: "Triệu Đà làm vuaNam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít". Điều này chứng tỏ Triệu Đà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ NhiếpĐến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáoNguyễn Trãi viết: “Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.” Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Đà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.Cuối thời Nguyễntrong Việt Nam sử lược, học giả Trần Trọng Kimvẫn chép nhà Triệu là chính thống.
Người đầu tiên đánh giá lại vai trò của nhà Triệu là Ngô Thì Sĩ, cuối đời Hậu Lê. Trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là ngoại bang, Triệu Đà là kẻ ngoại tộc:
Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy. Và ông kết luận: Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Đến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.
Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam, cũng phê phán sử cũ và coi nhà Triệu là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc. Đào Duy Anh là học giả lớn, là người khai sinh nền lịch sử macxit ở Việt Nam. Học trò của ông trở thành những cán bộ rường cột của sử học hiện đại nên ảnh hưởng của ông rất lớn. Ý kiến của ông thành quan điểm chính thống hiện nay.
2. Quan niệm của chúng tôi
Là lớp người sinh cùng Cách mạng tháng Tám, ngay sau hòa bình 1954 được học Sử Việt Nam với nhà Triệu giữ vai trò mở đầu lịch sử dân tộc. Sau này thấy sách giáo khoa thay đổi, coi Triệu Đà là kẻ xâm lược, thậm chí, Nguyễn Trãi bị sửa chữa: “Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước” được thay bằng “Trải Đinh, Lê, Lý, Trần…” chúng tôi không khỏi bức xúc. Chính nỗi bức xúc này buộc chúng tôi tự tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình.
a. Dựa trên tài liệu truyền thống
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: "Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà, người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làmNam Việt Vũ vương. Đà bèn tự tôn làm "Nam Việt Vũ đế", đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn đặm, Đà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là "chế", chẳng kém gì Trung Quốc". "Đến thời Hiếu Cảnh, Đà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu "đế" như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng "vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu".

Như vậy, cuốn sử quan trọng nhất của Trung Quốc vẽ lên nhà Triệu lừng lững một cõi biên thùy, là quốc gia độc lập, ngang ngửa với nhà Hán. Triệu Đà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm. Nói: “Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? là sự áp đặt, gán ghép vô căn cứ. Trong  bối cảnh lịch sử lúc đó, một nước nhỏ như Âu Lạc khó mà trụ được trước sức tấn công của nhà Hán mạnh. Nếu không có Nam Việt của Triệu Đà, Âu Lạc bị xâm lăng sớm hơn là điều chắc chắn.

Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi: "Đem số hộ khẩu chép ở sáchHán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Đông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba". Như vậy, tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Đà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Đà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!

Đúng là Triệu Đà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc thôn tính các nước Yên, Hàn, Tề, Triệu... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là thống nhất các tiểu quốc của nước Chu cũ. Tương tự vậy, việc Triệu Đà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Điều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Đây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Âu Lạc không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Năm 43, khi hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Nam Việt cũ từ miền Trung, miền Bắc Việt Nam đến vùng Lưỡng Quảng sang tận Hải Nam đều hưởng ứng... Sau này, khi qua khảo sát ở vùng đất phía Nam Trung Quốc, bác sĩ Trần Đại Sĩ thống kê được hơn 200 địa điểm có đền thờ hai Bà Trưng. Không thể có việc này nếu không có thời kỳ Nam Việt.

Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ tỏ ra bất cập khi viết: "Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả”. So với một quốc gia còn trong tình trạng sơ khai với những lạc hầu, lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói "thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán" cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Đà làm vua, quan hệ Việt, Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân ông làm quan. Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Đà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể “làm đầy túi tham của Lục Giả”. Lục Giả không bằng cấp, chức vị nên thường gọi là Lục sinh, là người hiền, có câu nói nổi tiếng: “Thiên tử dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên.” Một kẻ sĩ như thế không thể là người tham lam! Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Đà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần dân tộc hẹp hòi, cùng với hiểu biết lịch sử hạn chế, ông không chịu một người Hán làm vua nước Việt! Trong lịch sử thế giới, một người nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, cuối thế kỷ XVIII, Trịnh Quốc Anh, con một người nhà Minh tỵ nạn sang nước Xiêm, lãnh đạo người Xiêm đánh đuổi quân xâm lược Miến Điện, được tôn làm vua. Họ Trịnh (Taksin) sau thành họ lớn của người Thái. Người Thái không bao giờ nghi ngờ vai trò chính thống của dòng họ này!
b. Dựa vào tư liệu lịch sử mới
Cho đến nay, khi thảo luận về giai đoạn mở đầu của dân tộc Việt, các sử gia chỉ có những tài liệu trong cổ thư Trung Hoa, sách của một số học giả Pháp thời thuộc địa cùng những tư liệu khảo cổ, cố nhân chủng học chưa đầy đủ. Một nghịch lý mang tính duy tâm chủ quan và không thiếu khôi hài là trong khi phán xét những “hành động lịch sử” của tộc người hay một nhân vật nào đó mà người ta chưa hiểu họ là ai, được hình thành như thế nào?! Rất mừng là, sang thế kỷ này, với công trình di truyền học lập bản đồ gen người, khoa học nhân loại cho chúng ta những tư liệu để có cái nhìn thấu đáo hơn đối với lịch sử Đông Á.
Đựa trên truyền thuyết Lạc Long Quân, đựa trên sự phân bố trống đồng ở Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc, dựa vào xác định gen dân cư Văn Lang, ta có cơ sở để tin rằng, trước cuộc xâm lăng của Thục Phán, Văn Lang của các Vua Hùng là quốc gia rộng lớn, biên giới phía tây giáp Ba Thục, với nhiều chủng tộc, trong đó người Mongoloid phương Nam đa số. Khi Thục Phán chiếm ngôi Vua Hùng, nước Văn Lang tan rã. Ở phía nam Dương Tử, các bộ lạc trở nên tự trị đưới quyền các thủ lĩnh khu vực, có một số nơi các thủ lĩnh xưng vương, thành lập quốc gia riêng.
Tần Thủy Hoàng chiếm vùng Kinh, Dương của Văn Lang cũ và đưa dân tới ở xen với người Việt. Trong đội quân của nhà Tần, có Triệu Đà. Triệu Đà người Chân Định nước Triệu. Nhưng như trình bày trên, nước Triệu nguyên là dân cư Bách Việt, bị nhà Tần chiếm ít năm trước. Là quan chức nhà Tần nhưng Triệu Đà là người Việt chính gốc, nếu nói theo ngôn ngữ hôm nay thì ông là “người Tần gốc Việt”. Vì vậy, khi nhà Tần không còn, mặc nhiên ông trở lại làm dân Việt tự do. Việc ông làm vua của người Nam Việt là hoàn toàn chính thống.
Khi viết: “Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam,” “Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương,” Ngô Thì Sĩ tỏ ra bất cập. Ông bỏ qua tính lịch đại của địa danh. Những địa danh trên do nhà Tần đặt. Tuy chưa từng chiếm được Âu Lạc nhưng nhà Tần cũng chia nước ta thành những quận huyện. Ở đây, sử gia cuối triều Lê quá nệ vào tư liệu Trung Hoa nên sai lầm khi phủ nhận Nam Hải, Quế Lâm là đất Việt. Trước khi bị xâm lăng chia thành quận huyện thì đó thuộc Văn Lang của Vua Hùng, hoàn toàn do người Việt cư trú và quản trị. Vì vậy, khi sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt, Triệu Đà khôi phục nước cũ của các Vua Hùng. Sử gia này cũng tỏ ra khập khiễng khi so sánh việc Ngụy chiếm Thục với Triệu Đà sáp nhập Ấu Lạc. Suốt trong lịch sử dài, Thục là quốc gia độc lập với nhà Chu, nhà Tần. Vì vậy việc nhà Ngụy thôn tính Thục là xâm lăng. Trong khi đó Âu Lạc và Nam Việt là những bộ phận của một quốc gia thống nhất. Do hoàn cảnh lịch sử bị chia cắt, nay xóa bỏ cát cứ, khôi phục quốc gia cũ sao lại gọi là xâm lăng?
c. Dựa trên lịch sử so sánh
Một quan niệm về lịch sử muốn khoa học và thuyết phục, trước hết phải đạt được sự nhất quán. Một câu hỏi đặt ra cho các nhà sử học Việt Nam: Nếu Triệu Đà là xâm lược thì việc Thục Phán chiếm ngôi của vua Hùng là gì? Trên tất cả mọi ý nghĩa, đây hoàn toàn là cuộc xâm lăng! Tại sao trong sử Việt không có dòng nào nói về sự thật này?! Trong khi đó, suy xét tới cùng về Triệu Đà, ta thấy ông là người gốc Việt, diệt An Dương vương là triều đại ngoại bang xâm lăng  tiếm đoạt ngôi vị để thống nhất lãnh thổ Việt, xây dựng quốc gia tự chủ gần 100 năm thì lại bị coi là xâm lược? Chính sự mâu thuẫn, bất nhất này cho thấy có chuyện chưa ổn của ngành sử khi đánh giá nhà Triệu.
III. Trở về với lịch sử đích thực
Từ phân tích trên, ta thấy, về bản chất thì việc Thục Phán cướp ngôi vua Hùng là hành động xâm lăng. Triệu Đà đánh An Dương vương là cuộc chiến giải phóng đất nước.  Điều chung của hai sự kiện này là, sự chuyển giao quyền lực diễn ra chủ yếu tại triều đình một cách khá ôn hòa, không có chuyện một đội quan quân lớn ngoại bang tới đánh chiếm rồi đặt ách đô hộ. Vì vậy, không có những cuộc đàn áp giết tróc. Những thủ lãnh địa phương được tái dụng, dân mau chóng an cư lạc nghiệp và cũng mau chóng chấp nhận chính quyền mới. Ở đây, tình máu mủ đồng bào đã chiến thắng!
Cách nhận thức lịch sử như vậy phù hợp với đoạn kết của truyện Mỵ Châu - Trọng Thủy: “Những con trai ăn phải máu nàng Mỵ Châu đã sinh ngọc. Ngọc từ những con trai đó khi đem rửa trong nước giếng chàng Trọng Thủy trẫm mình sẽ trở nên tuyệt vời trong sáng.” Thông điệp của câu chuyện là: Đôi trai gái đã dâng tình yêu cùng sinh mạng của mình góp phần đưa lại thái bình thịnh vượng cho dân cho nước. Họ hoàn toàn trong sáng!
Đáng tiếc là có những người đã xuyên tạc lịch sử rồi dùng quyền lực áp đặt lịch sử bị xuyên tạc  khiến lịch sử đích thực bị vùi lấp! Càng đáng tiếc là cũng không ít người vì thiếu độc lập suy nghĩ nên không hiểu bản thông điệp rất minh triết trong phần kết câu chuyện! Họ không bao giờ tự hỏi: “Nếu Mị Châu là kẻ “phản bội” thì tại sao loài trai ăn phải dòng máu xấu xa ấy lại sinh ngọc?! Và ngọc nếu có, khi đem rửa vào nước giếng tên “gián điệp” trầm mình sao lại trở nên tuyệt với trong sáng? Sao từ sự xấu xa tận cùng lại nảy sinh tận cùng cái đẹp?!
Huyền thoại được sinh ra từ lịch sử. Bằng giải mã huyền thoại, con người đã minh định nhiều sự kiện lịch sử bị khuất lấp. Tại sao người ta không chịu hiểu thông điệp tuyệt vời minh triết của tổ tiên để từ đó tìm ra sự thật lịch sử?!
Do không hiểu lịch sử và văn hóa Việt nên mấy vị tiên, thứ chỉ làng Cổ Loa lập miếu thờ hòn đá vô tri, trưng ra trước bàn dân thiên hạ cái cảnh bi thảm thiếu nhân tính của câu chuyện, bêu riếu nàng Mỵ Châu cùng Nhật Nguyệt. Viết những câu thơ trên, ông Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, xếp sòng của ngành Tuyên huấn không chỉ thể hiện tri thức lịch sử hẹp hòi mà còn chứng tỏ lập trường bạn thù lệch lạc (Lê Nin đang nghĩ suy gì/ Kremlin in bóng thành trì lặng im  Cờ bay Vạn lý trường thành/ Bắc Kinh tay chị tay anh triệu vòng!) Chẳng những thế, do không hiểu nổi minh triết Việt trong câu chuyện, nhà thơ đã giáng cho nàng Mỵ Châu tội nghiệp nỗi oan như núi! Ông Chinh Văn quả đáng trách, cái đáng trách của kẻ thiếu tư duy độc lập, “ăn theo”, nên đã cho ra những câu văn vần yếu kém cả về nội dung lẫn nghệ thuật!
“Hỡi con người mà tôi yêu mến, hãy cảnh giác!” Lời của J. Fuxic dưới giá treo cổ luôn luôn là tiếng chuông cảnh tỉnh con người. Với số phận người dân Việt phải sống bên miệng hùm nanh sói thì cảnh giác là sự sống còn. Nhưng cảnh giác một cách minh triết hoàn toàn khác với sự vô minh xuyên tạc lịch sử và bôi bẩn hình tượng văn chương đẹp nhất của tộc Việt! Khi sai lầm này chưa được sửa thì đấy vẫn là nỗi nhục của chúng ta!./.

*http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=12860&LOAIID=1&LOAIREF=1&TGID
**Bùi Thiết. Quê hương của An Dương Vương ở đâu?
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Vị ngon của…muối


Ẩm thực các dân tộc thiểu số Kon Tum nổi tiếng với những món ăn mang đậm phong vị núi rừng, không cầu kì trong chế biến, không sử dụng nhiều gia vị, mà đồng bào chỉ chú ý sao cho giữ được vị ngon ngọt nguyên chất nhất. Trong đó không thể thiếu những chén muối nhỏ xinh mà đậm đà, ngon lành, mang cái cái hồn của núi rừng hoang sơ, nếu bạn có cơ hội thưởng thức một lần, ắt hẳn sẽ khó quên.

Muối tiêu rừng

Cay nồng vị muối tiêu rừng
 
Tiêu rừng không giống cây tiêu chúng ta thường thấy, lá như lá trầu, dây leo quấn quýt, mà là cây gỗ lớn tầm 10-15m mọc trong rừng sâu, tán vươn rộng. Cứ khoảng tháng 9-10 hàng năm, tiêu rừng vào mùa chín rộ, bà con đồng bào lại vác gùi vào rừng sâu lấy hạt. Hạt tiêu rừng mọc thành chùm chi chít, hơi nhỏ, màu xanh, trông gần giống như hạt cà phê. Sau khi hái về, họ tách hạt ra phơi khô, đựng vào ống nứa, bỏ lên gác bếp, qua một thời gian, tiêu rừng vẫn không hỏng mà lại còn giữ nguyên hương vị. Thân cây cũng có mùi thơm nên nhiều người còn tranh thủ bóc thêm ít vỏ cây mang về, phòng khi nhà hết hạt thì đem vỏ cây ra nghiền nhỏ dùng tạm. Tiêu rừng ngon nhất là dùng để chấm các loại thịt thú rừng như thịt sóc, thịt nhím, thịt chuột hoặc heo rừng nướng. Khi thịt vừa chín tới, còn nguyên lớp cháy sém, chấm ngay vào chén muối tiêu rừng cay nồng, thật không còn món ăn nào hòa hợp đến thế, ngon đến mức bạn sẽ phải xuýt xoa mãi. Tuy không cay xé như ớt xanh nhưng cái vị nồng sực của tiêu rừng tác động rất mạnh đến khứu giác, khiến người thưởng thức có cảm giác các món ăn ngon hơn rất nhiều. Giữa đêm lạnh núi rừng, bên bếp lửa, một dĩa thịt nhím nướng vàng sém, một chén muối tiêu rừng, thêm ghè rượu cần đã trở thành bữa nhậu ngon lành. Vị thơm thịt rừng tươi, vị đậm của muối, say nồng của rượu ghè men lá cây rừng hòa trộn vào nhau, làm say đắm lòng người, cứ kéo dài mãi, kéo mãi tới sáng. 
 
Muối kiến vàng
 
Chua chua vị muối kiến vàng
 
Để có kiến vàng làm muối không phải dễ dàng bởi kiến vàng không có quanh năm và cũng không phải sống ở khắp nơi. Khi có ý định đi bắt kiến, đồng bào phải chuẩn bị đồ đạc, quần áo kín mít, dao rựa, và thức ăn để vào tận trong rừng. Có những tổ kiến ở tuốt trên ngọn cây cao, hay cheo leo giữa những cành cây rậm rạp, đan xen lẫn nhau, muốn lấy được phải khéo léo leo trèo rồi cẩn thận mang xuống, tách lấy kiến và trứng mang về. Nếu tổ có nhiều trứng kiến thì làm món muối ướt, cách chế biến rất đơn giản là cho ớt tươi và muối vào giã một lúc cho các gia vị hòa trộn vào nhau. Muối kiến vàng ưót rất béo mà lại có vị ngọt, vị chua tự nhiên, ăn với cơm trắng ngon tuyệt. Còn nếu ổ có nhiều kiến thì làm muối khô, bỏ vào chảo rang sơ qua sao cho kiến chỉ hơi khô lại, chú ý không để cháy, mất đi vị béo có sẵn. Sau đó cho thêm gia vị như muối, ớt vào cối và giã nhuyễn. Có muối kiến vàng tích trữ trong nhà, bà con chế biến thành nhiều món ngon như: canh kiến vàng lá giang, kho với cá suối, tẩm vào thịt muối,… Món ngon vừa đơn giản lại bổ dưỡng, bởi kiến vàng có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, đạm từ 42-67% và có 28 loại axit amin, ngoài ra nó còn có nhiều sinh tố và khoáng chất. 
 
Muối lá é
 
The cay muối lá é
 
Nếu như muối tiêu rừng cay nồng, muối kiến vàng béo ngậy, chua chua thì muối lá é lại có vị thơm lạ, hơi the the cay, rất dễ chịu. Lá é chẳng phải là loại cây gia vị gì cao sang, quý hiếm, mà rất gàn gũi thân quen, mọc tự nhiên trên những cánh rừng râm mát, bên bờ suối, dưới khe, hay quanh quẩn xung quanh nhà sàn. Hình dáng lá cây hơi thon, màu xanh non, mọc thành đám như cây húng, cây rau thơm. Lá é có loại màu xanh nhạt và màu tía, lá é xanh nhạt thơm hơn, dễ ăn hơn nhiều. Cũng chẳng phải nhọc nhằn gì khi làm muối lá é, bà con nấu xong bữa cơm, chạy ra vườn hái vài lá, thêm vài trái ớt xanh, một ít muối hột, trộn vào giã nhỏ là đã có chén muối trên mâm cơm rồi. Mùa nếp nương chín, chén cơm mới trắng ngần, thơm phức, thêm miếng thịt rừng, chén muối lá é, đã thành bữa cơm ngon miệng.
 
Muối cà đắng
 
Đậm đà muối cà đắng
 
Đi trên những khoảng rừng rộng lớn ở Kon Tum, bạn rất dễ bắt gặp một loại cây lá giống lá cà pháo nhưng quả to hơn một chút, màu xanh đậm, thi thoảng có sọc trắng, đó chính là cà đắng, một loại thực phẩm quen thuộc của đồng bào dân tộc. Trước đây, cà đắng thường mọc hoang trên rừng, nơi đất cằn cỗi, nắng gió nên trái nhỏ, màu xanh đậm và có vị đắng gắt. Sau này đồng bào mang về trồng gần nhà, trái to hơn và vị đắng cũng giảm đi chút ít. Cà có vị đắng rất đặc trưng, ruột có nhiều hạt, được chế biến với nhiều món như: lòng dê nấu cà đắng, cà đắng hầm giò heo,… Cà đắng đặc biệt thích hợp với những loại thực phẩm có vị tanh như cá, tôm, lươn, ốc, ếch,… chính vị đắng đã khử đi mùi tanh và tăng thêm hương vị thơm ngon, nhất là khi bạn thêm chút lá lốt xắt nhỏ, đã thành món ăn khiến nhiều người ưa thích. Nhưng cách đơn giản nhất để tận hưởng hết vị đắng ngon chính là muối cà đắng, chỉ cần hái vài quả cà đắng còn non bằng ngón tay, thêm trái ớt rừng, giã nhỏ đã thành món muối cà đắng đặc biệt. Người đồng bào nơi đây cho rằng cà đắng không chỉ ngon miệng mà còn sẽ giúp cơ thể không bị thống phong, thấp khớp hay đau nhức xương. 
 
Không phải món ăn cao sang, quý hiếm, không phải gia vị trân quý, khó tìm nhưng mỗi món muối lại có vị ngon rất riêng, độc đáo và góp phần làm nên nét ấn tượng cho ẩm thực Bắc Tây Nguyên./.
 
Hà Oanh
Nguồn: CTTĐTTKT

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Lễ Khai Mạc Sứ Vụ Phêrô của Đức Thánh Cha Phanxicô I [2]


Video Lễ đăng quang của ĐGH Phanxicô I ngày 19.03.2013






VATICAN - 200.000 tín hữu cùng với đại diện chính quyền 132 quốc gia cũng như nhiều phái đoàn các Giáo hội Kitô và liên tôn đã tham dự Thánh lễ Khai mạc Sứ vụ Phêrô của ĐTC Phanxicô từ lúc 9:30 sáng ngày 19-3-2013 tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Lúc 8 giờ 45, ĐTC Phanxicô đã đi trên chiếc xe díp màu trắng, mui trần, không có kính chắn đạn, tiến ra Quảng trường Thánh Phêrô. Ngài tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu, reo vui, vẫy cờ quốc gia của họ. Có một lúc ĐTC truyền dừng xe lại, ngài xuống xe ôm hôn một người khuyết tật, và những lúc khác, ngài ôm hôn các em bé do các nhân viên an ninh bế lên cho ngài.

Trước Thánh lễ, lúc 9 giờ 20 phút, ĐTC đã xuống hầm dưới Bàn thờ chính của Đền thờ Thánh Phêrô và đến trước mộ của Thánh Tông Đồ trưởng. Tại đây, cùng với 10 thủ lãnh các Giáo hội Công giáo Nghi lễ Đông phương, trong đó có 4 vị Thượng phụ Giáo chủ, 4 vị Tổng Giám mục trưởng, trong số này 4 vị là Hồng y, ngài cầu nguyện và xông hương trên mộ Thánh Nhân. Từ mộ Thánh Phêrô, hai thầy phó tế đã lấy hai chiếc đĩa: một đựng dây Pallium và một đựng nhẫn Ngư phủ của ĐTC, để tháp tùng ngài trong đoàn rước tiến ra lễ đài trên thềm Đền thờ Thánh Phêrô.

Thành phần tham dự
Đi trước ĐTC trong đoàn rước là 180 vị đồng tế, hầu hết là các hồng y, trong phẩm phục màu trắng vàng, trong khi ca đoàn Sistina của Toà Thánh hát Kinh Cầu các Thánh xin các vị phù giúp Đức tân Giáo hoàng.

Trong đoàn đồng tế, đặc biệt cũng có 2 linh mục đó là Cha José Rodriguez Carballo, người Mexico, và Cha Aldolfo Nicolás Pachón, người Tây Ban Nha, Bề trên Tổng quyền Dòng Tên. Hai vị được mời đồng tế trong tư cách là Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hiệp hội các Bề trên Tổng quyền dòng nam.

Việc giúp lễ do 15 tu sĩ Phanxicô thuộc Đền thánh La Verna ở miền trung Italia, nơi thánh Phanxicô Assisi nhận 5 dấu thánh, đảm trách với sự phụ giúp của 4 thầy thuộc dòng Phanxicô Viện Tu ở Roma. Phần thánh ca trong buổi lễ do Ca đoàn Sistina của Tòa Thánh gồm 65 ca viên do Nhạc trưởng là Đức ông Massimo Palombella điều khiển, cộng thêm với Ca đoàn tổng hợp gồm 80 ca viên.

Bên trái bàn thờ là 200 giám mục và 33 phái đoàn của các Giáo hội Kitô anh em, đứng đầu là Đức Thượng phụ Bartolomaios I, Giáo chủ Chính thống Constantinople bên Thổ Nhĩ Kỳ, và cũng được coi là vị thủ lãnh danh dự chung của toàn Chính thống giáo. Các vị lãnh đạo các Giáo hội Tin Lành, Hội đồng Đại kết các Giáo hội Kitô, và cả Thầy Alois Loeser, Tu viện trưởng Tu viện Đại kết Taizé, Pháp.

Cũng ở bên trái nhưng xuống phía trước bàn thờ là phái đoàn của các tôn giáo bạn, từ Do Thái giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Đạo Sikh, Jaina và Ấn giáo. Sau đó là 1.200 linh mục và chủng sinh.

Bên hông phải bàn thờ là chỗ dành cho 132 phái đoàn chính thức của các nước, đứng đầu là Tổng thống Cộng hoà Italia, ông Giorgio Napolitano, Bà Tổng thống Cristina Fernández de Kirchner của Argentina, 6 vị vua, 32 vị tổng thống, 3 thái tử, phần còn lại là các thủ tướng chính phủ, phu nhân tổng thống, hoặc phó tổng thống, trong đó có Ông Joseph Biden của Hoa Kỳ.

Chính quyền thành Roma đã bố trí một số màn hình khổng lồ tại khu vực quảng trường Thánh Phêrô và đường Hoà Giải để dân chúng có thể tham dự Thánh lễ.

ĐTC tiến ra lễ đài trước sự vỗ tay vang dội của mọi người. Nhiều lá cờ quốc gia cũng được các tín hữu phất lên, dưới bầu trời đẹp.

Nghi thức nhận dây Pallium và Nhẫn Ngư phủ

Nghi thức khai mạc sứ vụ Phêrô, theo quy định của ĐTC Bênêđictô XVI, nay được cử hành liền trước Thánh lễ, vì không phải là bí tích. Nghi thức này gồm phần trao dây Pallium Giáo hoàng và trao Nhẫn Ngư phủ.

Dây Pallium được trao cho ĐTC là dây làm bằng lông chiên màu trắng, có 6 hình Thánh Giá màu đỏ, khi được đeo vào cổ, có một phần dài ở phía trước ngực và một phần dài ở sau lưng. Đây là biểu hiệu cổ kính nhất của Giám mục. Simeon thành Tessalonica viết: "Dây Pallium chỉ Chúa Cứu Thế khi gặp chúng ta như chiên lạc đàn, Ngài vác lên vai, và khi nhận lấy nhân tính con người trong cuộc nhập thể, Ngài thần hoá nhân tính ấy bằng cái chết của Ngài trên Thánh Giá, Ngài dâng chúng ta cho Chúa Cha, và qua cuộc phục sinh, Ngài nâng chúng ta lên cao."

Vì thế, dây Pallium nhắc nhớ Vị Mục Tử Nhân Lành (x. Ga 10,11), vác trên vai con chiên lạc (x. Lc 15,4-7), và 3 câu trả lời yêu mến đáp lại 3 câu Chúa Giêsu Phục Sinh hỏi Thánh Phêrô, và Chúa dạy thánh nhân hãy chăn các con chiên con và chiên mẹ của Ngài (x. Ga 21,15-17).

3 vị Hồng y là Angelo Sodano, Niên trưởng HY đoàn, trưởng đẳng giám mục, ĐHY Godfried Danneels, nguyên TGM Bruxelles của Bỉ, trưởng đẳng hồng y linh mục, và ĐHY Jean Louis Tauran, người Pháp, trưởng đẳng hồng y phó tế, lần lượt tiến lên trước mặt ĐTC. ĐHY Tauran cầu xin Thiên Chúa của hoà bình ban cho ĐGH dây Pallium đã lấy từ bàn thờ tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô Tông Đồ, là Đấng mà Mục Tử Nhân Lành đã truyền chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Ngài, và ngày hôm nay ĐTC kế vị thánh nhân. Xin Thánh Thần Chân Lý ban ơn soi sáng và phân định cho sứ vụ của ĐTC củng cố các anh em trong đức tin duy nhất.

Rồi ĐHY trưởng đẳng Phó tế tiến lên đeo dây Pallium vào cổ Đức tân Giáo hoàng, tiếp đến ĐHY trưởng đẳng linh mục Danneels kết thúc với lời nguyện: "Xin Thiên Chúa chúc lành và củng cố ơn Thánh Linh để sứ vụ của Đức tân Giáo hoàng tương ứng với sự cao cả của đoàn sủng mà Chúa đã ban cho Người."

Sau đó là nghi thức trao nhẫn Ngư phủ. Ngay từ ngàn năm thứ I, nhẫn là biểu hiệu riêng của Giám mục. Chiếc nhẫn Ngư phủ được trao cho ĐTC Phanxiô bằng bạc có hình Thánh Phêrô đang cầm chìa khoá, có nghĩa đó là nhẫn chứng thực thực đức tin và nói lên nghĩa vụ được uỷ thác cho Thánh Phêrô là củng cố các anh em mình (x. Lc 22,32). Nhẫn này được gọi là nhẫn Ngư phủ vì Thánh Phêrô là Tông Đồ Ngư Phủ (x. Mt 4,18-19). Sau khi tin vào lời Chúa Giêsu (x. Lc 5,5), thánh nhân đã thả lưới và kéo vào bờ mẻ cá lạ lùng (x. Ga 21,3-14).

ĐHY Angelo Sodano, trưởng đẳng giám mục, nói: "Kính thưa Đức Thánh Cha, chính Chúa Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, là Mục Tử và là Giám Mục của các linh hồn chúng ta, Đấng đã xây dựng Giáo Hội trên đá tảng, ban cho ĐTC Nhẫn này, ấn tín của Thánh Phêrô Ngư Phủ, Người đã sống niềm hy vọng trên biển Tiberiade và Chúa đã trao cho Người chìa khoá Nước Trời. Ngày hôm nay, ĐTC kế vị Thánh Phêrô trong Giám mục đoàn của Giáo Hội này, làm đầu trong tình hiệp thông hiệp nhất theo giáo huấn của Thánh Phaolô Tông Đồ. Xin Thánh Thần tình yêu được phú vào tâm hồn chúng ta làm cho ĐTC được tràn đầy sức mạnh và sự dịu dàng để giữ gìn các tín hữu Chúa Kitô, qua sứ vụ của ĐTC, trong sự hiệp thông duy nhất."

Rồi ĐHY Sodano trao Nhẫn Ngư phủ cho ĐTC, giữa tiếng vỗ tay vang dội của cộng đoàn.

Tiếp đến là nghi thức tuân phục. Hồi ĐGH Bênêđictô XVI khai mạc sứ vụ, ngoài các hồng y còn có các đại diện linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân, tổng cộng là 12 người, nhưng lần này chỉ có 6 hồng y đại diện, mỗi đẳng giám mục, linh mục và phó tế 2 vị. Hai vị đứng đầu là ĐHY Giovanni Battista Re và ĐHY Bertone.

Trong nghi thức này không có đại diện linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân vì họ sẽ cử hành nghi thức tuân phục trong buổi lễ ĐTC Phanxicô sẽ cử hành trong Mùa Phục Sinh khi đến nhận Nhà thờ Chính toà Giáo phận Roma của ngài là Đền thờ Thánh Gioan Laterano.

Thánh lễ kính Thánh Giuse với kinh nguyện và các bài đọc đi kèm bắt đầu sau Nghi thức nhận Pallium và Nhẫn Ngư phủ của ĐTC.

Bài Tin Mừng được hát bằng tiếng Hy Lạp kể lại sự tích Thánh Giuse sau khi thấy Đức Maria có thai, thì toan tính âm thầm bỏ rơi Người, nhưng đã được Sứ thần Chúa hiện ra trong giấc mộng và dạy hãy đón nhận Đức Maria về nhà mình.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng tiếp đó bằng tiếng Ý, ĐTC nói:

Anh chị em thân mến,

Tôi cảm tạ Chúa vì được cử hành Thánh lễ này, khai mạc sứ vụ Phêrô trong ngày lễ trọng kính Thánh Giuse, Hôn Phu của Đức Trinh Nữ Maria, và là Bổn Mạng của Giáo Hội: đây là một dịp trùng hợp đầy ý nghĩa và cũng là lễ bổn mạng của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi: chúng ta gần gũi ngài trong kinh nguyện, đầy lòng quý mến và biết ơn (vỗ tay).

Tôi thân ái chào các anh em hồng y và Giám mục, các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và tất cả anh chị em giáo dân. Tôi cám ơn các đại diện của các Giáo Hội và Cộng đoàn Giáo Hội khác hiện diện nơi đây cũng như các đại diện của cộng đồng Do Thái và các cộng đồng tôn giáo khác. Tôi gửi lời chào nồng nhiệt đến các vị quốc trưởng và thủ tướng chính phủ, các phái đoàn chính thức của bao nhiêu nước trên thế giới và ngoại giao đoàn.

Chúng ta đã nghe trong Tin Mừng rằng "Giuse làm như Thiên Thần Chúa đã truyền và đón nhận hiền thê của mình" (Mt 1,24). Trong những lời này có gồm tóm sứ mạng mà Thiên Chúa uỷ thác cho Giuse, sứ mạng làm người canh giữ. Nhưng canh giữ ai? Thưa là canh giữ Mẹ Maria và Chúa Giêsu, nhưng đó là một sự canh giữ được nới rộng cho toàn thể Giáo Hội, như Chân phước Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh: "Thánh Giuse, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tuỵ giáo dục Đức Giêsu Kitô, như thế, Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội, mà Đức Thánh Trinh Nữ là hình ảnh và gương mẫu" (Tông huấn Redemptoris Custos, 1).

Thánh Giuse thi hành công việc canh giữ ấy như thế nào? Thưa một cách kín đáo, khiêm tốn, trong thinh lặng, nhưng với một sự hiện diện liên lỉ và trung tín hoàn toàn, cả khi Ngài không hiểu. Từ khi kết hôn với Mẹ Maria cho đến biến cố Chúa Giêsu 12 tuổi tại Đền thờ Jerusalem, Ngài ân cần yêu thương đồng hành trong mọi lúc. Ngài ở cạnh Maria, Hiền Thê của Ngài, trong những lúc thanh thản cũng như trong những lúc khó khăn của cuộc sống, trong hành trình đi Bêlem để kiểm tra dân số, và trong những giờ hồi hộp và vui mừng của cuộc sinh hạ; trong lúc bi thảm tị nạn sang Ai Cập và trong cuộc vất vả tìm con tại Đền thờ; và rồi trong cuộc sống hằng ngày tại nhà Nazareth, trong phòng làm việc nơi thánh nhân đã dạy nghề cho Chúa Giêsu.

Thánh Giuse đã sống ơn gọi gìn giữ Mẹ Maria, Chúa Giêsu và Giáo Hội như thế nào? Thưa trong sự luôn quan tâm để ý tới Thiên Chúa, cởi mở đối với những dấu hiệu của Chúa, sẵn sàng đối với dự phóng của Chúa, không phải tới điều riêng của mình, nhưng điều mà Thiên Chúa yêu cầu Vua Davít, như chúng ta đã nghe trong Bài đọc I; Thiên Chúa không mong ước một nhà do con người làm ra, nhưng Chúa muốn lòng trung thành với Lời Ngài, với kế hoạch của Ngài; và chính Thiên Chúa xây dựng căn nhà, nhưng bằng những viên đá sống động nhờ Thánh Thần của Ngài. Và Thánh Giuse là người "canh giữ", vì Ngài biết lắng nghe Thiên Chúa, để cho thánh ý Chúa hướng dẫn, và chính vì thế thánh nhân càng nhạy cảm hơn đối với những người được ủy thác cho Ngài, biết đọc các biến cố một cách thực tế, chú ý đến những gì ở chung quanh và biết đưa ra những quyết định khôn ngoan hơn. Các bạn thân mến, chúng ta thấy Thánh Giuse đáp ứng ơn gọi của Chúa như thế nào, với thái độ sẵn sàng, mau mắn, nhưng chúng ta cũng thấy đâu là trung tâm điểm ơn gọi Kitô, là chính Chúa Kitô! Chúng ta hãy gìn giữ Chúa Kitô trong đời sống chúng ta, để giữ gìn những người khác, để giữ gìn thiên nhiên, công trình sáng tạo.

Nhưng ơn gọi của người canh giữ không phải chỉ liên hệ đến các tín hữu Kitô chúng ta mà thôi, nhưng còn có một chiều kích đi trước và nhân bản, liên hệ tới tất cả mọi người. Đó là việc bảo tồn toàn thể thiên nhiên, vẻ đẹp của công trình tạo dựng, như được trình bày cho chúng ta trong Sách Sáng Thế và như Thánh Phanxicô Assisi đã chỉ cho chúng ta; đó là tôn trọng đối với mỗi thụ tạo của Thiên Chúa và môi trường trong đó chúng ta sinh sống. Đó là giữ gìn con người, chăm sóc tất cả mọi người, mỗi người, với tình yêu thương, đặc biệt là các trẻ em, người già, những người yếu đuối hơn và thường ở ngoài lề tâm hồn chúng ta. Đó là chăm sóc lẫn nhau trong gia đình: vợ chồng gìn giữ nhau, và trong tư cách là cha mẹ, họ chăm sóc con cái, rồi với thời gian cả con cái cũng trở thành những người gìn giữ cha mẹ. Đó là sống những tình bạn chân thành, là một sự gìn giữ nhau trong sự tín nhiệm, trong sự tôn trọng và trong thiện ích. Xét cho cùng, tất cả đều được ủy thác cho sự gìn giữ của con người, và đó là một trách nhiệm liên hệ tới tất cả chúng ta. Anh chị em hãy trở thành những người gìn giữ hồng ân của Thiên Chúa.

Và khi con người thiếu sót trách nhiệm của mình, khi chúng ta không chăm sóc công trình tạo dựng và các anh chị em chúng ta, thì khi ấy xảy ra sự tàn phá và con tim trở nên chai đá. Rất tiếc là trong mỗi thời đại, đều có những "Vua Hêrôđê" đề ra những mưu đồ chết chóc, huỷ hoại và bóp méo khuôn mặt của con người nam nữ.

Tôi muốn xin tất cả những người đang nắm giữ các vai trò trách nhiệm trong lĩnh vực kinh tế, chính trị hoặc xã hội, tất cả những người thiện chí: "Chúng ta hãy trở thành những người gìn giữ công trình tạo dựng, gìn giữ kế hoạch của Thiên Chúa được ghi khắc trong thiên nhiên, giữ gìn tha nhân, môi sinh; chúng ta đừng để cho những dấu hiệu tàn phá và chết chóc tháp tùng hành trình của thế giới chúng ta! Nhưng để "gìn giữ" thì chúng ta cũng phải chăm sóc chính mình! Chúng ta hãy nhớ rằng oán ghét, ghen tương, kiêu ngạo làm cho cuộc sống bị nhơ bẩn! Gìn giữ có nghĩa là canh chừng những tâm tình chúng ta, con tim chúng ta, vì chính từ đó nảy sinh những ý hướng tốt hay xấu: những ý hướng xây dựng và những ý hướng huỷ hoại! Chúng ta không được sợ sự tốt lành, và cũng đừng sợ sự dịu dàng!

Và ở đây, tôi muốn ghi nhận thêm điều này: chăm sóc, giữ gìn, đòi phải có sự tốt lành, đòi phải được sống với sự dịu dàng. Trong các sách Phúc Âm, Thánh Giuse xuất hiện như một người mạnh mẽ, can đảm, chuyên cần làm việc, nhưng trong tâm hồn Ngài trổi vượt một sự rất dịu dàng, đây không phải là đức tính của kẻ yếu, trái lại, nó chứng tỏ một tâm hồn mạnh mẽ và có khả năng chú ý, cảm thương, thực sự cởi mở đối với tha nhân, yêu thương. Chúng ta không được sợ sự tốt lành và dịu dàng!

Ngày nay, cùng với lễ Thánh Giuse, chúng ta cử hành khởi đầu sứ vụ của tân Giám mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô, cũng bao gồm một quyền bính. Dĩ nhiên Chúa Giêsu Kitô đã ban quyền cho Thánh Phêrô, nhưng đó là quyền bính gì thế? Sau 3 câu Chúa Giêsu hỏi Thánh Phêrô về tình yêu, có 3 lời mời gọi: hãy chăn các chiên con, hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy. Chúng ta không bao giờ được quên rằng quyền bính đích thực là phục vụ và cả Giáo hoàng, để thi hành quyền bính này, ngày càng phải tiến sâu hơn vào việc phục vụ ấy, việc phục vụ có tột đỉnh sáng ngời trên Thập giá; Giáo hoàng phải nhìn đến sự phục vụ khiêm tốn, cụ thể, đầy đức tin, của Thánh Giuse và như thánh nhân, mở rộng vòng tay để giữ gìn toàn thể Dân Chúa và yêu thương, dịu dàng, đón nhận toàn thể nhân loại, nhất là những người nghèo nhất, yếu đuối nhất, những người nhỏ bé nhất, những người mà Thánh Matthêu mô tả trong cuộc phán xét chung về đức bác ái: những người đói, khát, ngoại kiều, người trần trụi, bệnh nhân, tù nhân (x. Mt 25,31-46). Chỉ những ai phục vụ với lòng yêu mến mới biết giữ gìn!

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô nói về Abraham, người "đã tin, kiêm vững trong niềm hy vọng bất chấp mọi nghịch cảnh" (Rm 4,18). Kiên vững trong niềm hy vọng, bất chấp mọi nghịch cảnh! Cả ngày nay, đứng trước bao nhiêu chân trời đen xám, chúng ta cần thấy ánh sáng hy vọng và chính chúng ta trao ban hy vọng. Giữ gìn công trình tạo dựng, mỗi người nam nữ, với cái nhìn dịu dàng và yêu thương, đó chính là mở rộng chân trời hy vọng, là mở ra một luồng sáng giữa bao nhiêu mây mù, là mang sức nóng hy vọng! Và đối với tín hữu, đối với các tín hữu Kitô chúng ta, như Abraham, như Thánh Giuse, niềm hy vọng mà chúng ta mang có chân trời của Thiên Chúa được mở rộng cho chúng ta trong Chúa Kitô, được xây dựng trên đá tảng là Thiên Chúa.

Giữ gìn Chúa Giêsu với Mẹ Maria, giữ gìn toàn thể công trình sáng tạo, giữ gìn mỗi người, đặc biệt là người nghèo nhất, giữ gìn chính chúng ta; đó là một công tác phục vụ mà Giám mục Roma được kêu gọi chu toàn, nhưng đó cũng là ơn gọi mà tất cả chúng ta được mời gọi làm cho ngôi sao hy vọng được chiếu sáng rạng ngời: Chúng ta hãy gìn giữ với lòng yêu mến điều Thiên Chúa đã ban cho chúng ta!

Tôi cầu khẩn sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, của Thánh Giuse, của Thánh Phêrô và Phaolô, Thánh Phanxicô, xin Chúa Thánh Linh tháp tùng sứ vụ của tôi, và tôi nói với tất cả anh chị em rằng: xin cầu nguyện cho tôi! Amen."

Các ý nguyện

Bài giảng của ĐTC bị ngắt quãng nhiều lần vì những tiếng vỗ tay của các tín hữu, lần đầu khi ngài chúc mừng lễ Bổn mạng của vị tiền nhiệm và mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho người.

Trong phần lời nguyện phổ quát, đã có 5 ý nguyện được xướng lên là tiếng Nga, Pháp, Ảrap, Swahili bên Phi châu và tiếng Hoa, lần lượt cầu cho Giáo Hội: Xin Thiên Chúa toàn năng nâng đỡ mọi người, các mục tử và tín hữu, sống tuân phục vô điều kiện đối với Tin Mừng; xin Chúa gìn giữ ĐGH Phanxicô trong việc thi hành sứ vụ của người kế nhiệm Thánh Phêrô và Chủ Chăn của toàn thể Giáo Hội; cầu cho các người cầm quyền: xin Chúa soi sáng tâm trí và hướng dẫn họ trong việc xây dựng nền văn minh tình thương; cầu cho những người nghèo khổ trên trái đất: xin Chúa bồi dưỡng, an ủi và ban cho họ niềm hy vọng nhờ lòng bác ái của các tín hữu Kitô; sau cùng là cầu cho gia đình của Thiên Chúa đang tụ họp trong Thánh lễ: xin Chúa biến đổi cuộc sống của tất cả các tín hữu nên giống Chúa Giêsu.

Để rút ngắn thời gian buổi lễ, không có phần tiến dâng lễ vật, và ĐTC cũng không đích thân cho rước lễ, nhưng một thầy phó tế đã làm thay. Trong khi đó có 500 linh mục mang Mình Thánh Chúa phân phát cho các tín hữu tại khu vực hành lễ. Sau Thánh lễ, ở bên trong Đền thờ Thánh Thánh Phêrô, ĐTC đã chào thăm các vị thủ lãnh của 132 phái đoàn chính thức do chính phủ các nước gửi đến dự lễ. Bắt đầu là bà Tổng thống Cristina Kirchner của Argentina và Tổng thống Giorgio Napolitano của Italia.

Lễ khai mạc sứ vụ của ĐTC kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ và được nhiều tín hữu trên thế giới theo dõi qua truyền hình.

Nguồn: RV

Lễ Khai Mạc Sứ Vụ Phêrô của Đức Thánh Cha Phanxicô I [1]




PHANXICÔ, bài hát chào mừng đức tân giáo hoàng PHANXICÔ I :







Thánh lễ khai mạc sứ vụ Phêrô của ĐGH Phanxicô: bảo vệ người nghèo và môi trường
Lm Gioan Trần Công Nghị3/19/2013


Đức Thánh Cha Phanxicô khai mạc sứ vụ Phêrô và triều đại giáo hoàng của ngài hôm nay thứ ba 19.3 lễ kính thánh Giuse với thánh lễ trọng thể với sự hiện diện của hằng trăm ngàn người cùng với các vị đại diện các tôn giáo và các nhà lãnh đạo các quốc gia tại Quảng trường Thánh Phêrô. 

Xem hình ảnh thánh Lễ khai mạc của sứ vụ Phêrô của ĐGH Phanxicô

Thánh Lễ chính thức khai mạc sứ vụ Phêrô của Đức Giáo hoàng Phanxicô là giám mục Roma và là người lãnh đạo mới của Giáo hội Công giáo với 1,2 tỷ người trên toàn thế giới.

Thánh lễ bắt đầu với Thánh giá nến cao đi đầu và cuộc rước từ trong đền thờ thánh Phêrô tiến ra bàn thờ đặt trên các cấp tiền đường vương cung thánh đường. Đoàn rước tiến đi trong khi ca đoàn hát kính cầu Các Thánh, trong đó có tên các Thánh giáo hoàng tiền nhiệm.

130 phái đoàn đoàn đại biểu các quốc gia và tôn giáo có mặt hôm nay, trong đó có 6 quốc vường, tổng thống, đặc biệt có Tổng thống Argentina là Cristina Fernandez và Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden, các nhà lãnh đạo khác cũng như người đứng đầu nhiều quốc gia và nhiều tín ngưỡng.

Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew từ Istanbul, nhà lãnh đạo tinh thần của Chính Thống Giáo lần đầu tiên tham dự Thánh Lễ khai mạc của một vị giáo hoàng Roma kể từ có cuộc ly khai giữa Kitô giáo Tây phương và Đông phương vào năm 1054.

Trong bài giảng, ĐTC Phanxicô nhấn mạnh rằng: "Nhiệm vụ của Giáo Hội có nghĩa là tôn trọng mỗi tạo vật của Thiên Chúa và tôn trọng các môi trường chúng ta đang sống. Nó có nghĩa là bảo vệ người, thể hiện mối quan tâm yêu thương người mỗi, đặc biệt là trẻ em, người già, những người có nhu cầu, mà thường là những người cuối cùng mà chúng ta nghĩ tới họ".

Ngài nói rằng bất cứ khi nào con người không thể chăm sóc cho môi trường và cho nhau thì “con đường được mở tới hủy diệt và trái tim trở thành sơ cứng. Thật là bi kịch trong mỗi giai đoạn lịch sử luôn có ‘những người như Herođê’ mưu toan sự chết, tàn phá và hủy diệt bộ mặt người nam và người nữ."

ĐTC Phanxicô, cựu Hồng Y Jorge Bergoglio của Argentina, khi được bầu làm Giáo hoàng lấy tên mới là Phanxicô theo tên của Thánh Phanxicô thành Assisi, một biểu tượng của sự khó nghèo, từ thiện, đơn giản và tình yêu thiên nhiên. Từ ngày được bầu làm Giáo hoàng cho đến nay, ĐTC Phanxicô tiếp tục lên tiếng rằng sứ mệnh của Giáo Hội là để bảo vệ những người nghèo và có hoàn cảnh khó khăn.

ĐTC Phanxicô, giáo hoàng đầu tiên thuộc Dòng Tên, mang niềm hy vọng cho sự thay đổi và canh tân trong một Giáo Hội đang bị vây quanh bởi một cuộc khủng hoảng toàn cầu sâu.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới hãy trở thành “những người bảo vệ lẫn nhau và bảo vệ môi trường... Chúng ta đừng quên rằng hận thù, ghen tị và niềm tự hào làm ô uế cuộc sống của chúng ta. Là những người bảo vệ, cũng có nghĩa là để mắt canh giữ trên các cảm xúc và trái tim của chúng ta."

Trước Thánh lễ, Đức Thánh Cha lưu diễn quanh quảng trường Thánh Phêrô trong một chiếc xe jeep màu trắng. Dân chúng đứng đông nghẹt quảng trường. Họ từ khắp nơi đến đây. Tay vẫy cờ hân hoàn chào đón Đức Thánh cha Phanxicô trong ngày trọng đại hôm nay. ĐTC Phanxicô dừng lại thường xuyên để chúc lành cho họ, hôn trẻ sơ sinh và khi nhận ra trong một người tàn tật, Ngài liền ban phép lành cho người này.

Trước Thánh lễ, ĐTC Phanxicô nhận chiếc nhẫn ngư phủ và dây pallium lông cừu, tượng trưng quyền Giáo hoàng, đã được đặt qua đêm trên ngôi mộ của Thánh Phêrô dưới bàn thờ của vương cung thánh đường.

Nhiều người trong đám đông nói rằng họ đã có hy vọng rất cao về một triều đại giáo hoàng Phanxicô, một người được tiếng là đơn sơ, khiêm nhường và luôn quan tâm tới người nghèo và những người thấp hèn.

Buổi lễ khai mạc sứ vụ Phêrô được tiến hành trên cấp bậc tiền sảnh trước thánh đường thánh Phêrô, kéo dài khoảng 2 giờ. 

Sau thánh lễ ĐTC Phanxicô đến chào hỏi và bắt tay các nhà lãnh đạo các quốc gia trong vương cung thánh đường thánh Phêrô.

Huy hiệu mới Đức thánh cha Phanxicô lấy lại huy hiệu cũ của Ngài khi còn làm Hồng Y Jorge Mario Bergoglio có thêm vào phía sau mũ giáo hoàng và chìa khóa thánh Phêrô. Huy hiệu cũ gồm ba biểu tượng được bố trí thành ba đỉnh của một tam giác cân. Đỉnh phía trên cùng của tam giác này là ánh mặt trời với chữ IHS ở giữa là biểu tượng của danh thánh Chúa Giêsu theo tiếng Hy Lạp IHSOUS (ΙΗΣΟΥΣ). 

Ở phía dưới bên trái là một ngôi sao năm cánh, cùng với nền màu xanh, tượng trưng cho Đức Trinh Nữ Maria. Ở phía bên tay phải, là một chùm nho tượng trưng cho Chúa Giêsu như người gieo trồng Đức Tin.

Bên dưới là khẩu hiệu của ngài “Miserando atque Eligendo” bằng tiếng Latin có nghĩa là "Thấp hèn nhưng lại được chọn", đề cập đến một đoạn trong Thánh Kinh trong đó tường thuật việc Chúa chọn người thu thuế Matthêu.


Một số thông tin thú vị về Thánh lễ Khai mạc Sứ vụ Phêrô của ĐGH Phanxicô



(SJVN) – Trong cuộc họp báo được tổ chức ngày 18-3-2013, Cha Federico Lombardi, SJ, Giám đốc Phòng Báo chí Toà Thánh, đã nhấn mạnh đến 2 chủ đề: những cuộc tiếp kiến đầu tiên của Đức Giáo hoàng Phanxicô và những chi tiết liên quan đến Thánh lễ khai mạc sứ vụ Phêrô của Giám mục Rôma.

Trước hết, Cha Lombardi cho biết Đức Thánh Cha lúc này đang cùng ăn trưa với nữ Tổng thống Cristina Fernandez de Kirchner của Argentina, sau khi tiếp kiến bà và phái đoàn tại Nhà Thánh Mátta khoảng 20 phút. Sáng nay, vào lúc 10 giờ, ĐTC đã tiếp kiến ĐHY Tarcisio Bertone, SDB, Quốc vụ khanh Toà Thánh. Ngài cũng đã có 2 cuộc gặp thân mật với một vị giám mục của Giáo phận Albano, Ý, và một vị khác là Cha Adolfo Nicolas, SJ, Bề trên Tổng quyền Dòng Tên vào chiều hôm qua.


Phần chính của cuộc họp báo bàn về công tác tổ chức Thánh lễ khai mạc sứ vụ Phêrô của ĐTC. Trước hết, Cha Lombardi minh định rằng thuật ngữ chính xác gọi tên buổi lễ này là Lễ Khai mạc Sứ vụ Phêrô chứ không phải là lễ đăng quang Giáo hoàng. Trong tư cách là người kế vị Thánh Phêrô, Đức Giáo hoàng là Giám mục Rôma và là đấng cai quản Giáo Hội trong tình yêu. Đây cũng là một buổi lễ giàu tính biểu tượng khi gợi nhắc về tình hiệp thông mật thiết giữa ĐGH với Thánh Phêrô, khi buổi lễ được cử hành tại chính nơi mà theo truyền thống Thánh Phêrô đã chịu tử đạo.


Vị Giám đốc Văn phòng Báo chí Toà  Thánh cũng giải thích về cách bố trí chỗ ngồi cho những người tham dự Thánh lễ. Phía cánh trái của Đền thờ Thánh Phêrô là chỗ ngồi của các giám mục và tổng giám mục (dự kiến khoảng 250 vị), các vị chức sắc và phái đoàn của các cộng đoàn và các Giáo hội Kitô anh em. Phía cánh phải sẽ dành cho phái đoàn đến từ các nước với các nguyên thủ quốc gia, các bộ trưởng… Khu vực phía tượng Thánh Phêrô sẽ dành cho quý chức sắc của các tôn giáo bạn: Do Thái giáo, Hồi giáo…, sau đó là khoảng 1.200 linh mục và chủng sinh. Phía tượng Thánh Phaolô sẽ là chỗ ngồi của ngoại giao đoàn và các quan chức dân sự khác. Phần lớn quảng trường sẽ dành cho những người tham dự không có có vé. Theo dự báo sẽ có một lượng người khổng lồ tham dự sự kiện này.


Khởi đầu nghi lễ, ĐTC sẽ tiến vào Đền thờ thánh Phêrô và tuyên xưng đức tin nơi vị trí mộ Thánh Phêrô bên dưới bàn thờ giữa tiếng tung hô “Tu es Petrus” (Này con là đá). ĐGH sẽ kính viếng mộ Thánh Phêrô cùng với 10 vị thượng phụ và tổng giám mục chính toà của các Giáo hội Công giáo Nghi lễ Đông phương (trong số này có 4 hồng y). Sau đó, dây Pallium, nhẫn Ngư phủ và sách Phúc Âm vốn được đặt trên mộ Thánh Phêrô từ tối hôm trước sẽ được dâng lên ĐGH.


ĐTC sẽ trở lại gian chính của đền thờ và tiếp tục đoàn rước. Kinh “Laudes Regiae” (Chúa Kitô là Vua) sẽ được xướng lên cùng với một số lời kinh nguyện trích từ văn kiện Ánh sáng Muôn dân (Lumen Gentium) của Công đồng Vatican II. Cha Lombardi cũng cho biết thêm rằng trong Kinh Cầu các Thánh, sau tên của các Tông đồ, tên của vị giáo hoàng được phong thánh gần đây nhất là Thánh Giáo hoàng Piô X sẽ được xướng lên và không xướng tên những vị được phong Chân phước. Đoàn rước sẽ tiếp tục tiến ra Quảng trường Thánh Phêrô.


Cha Lombardi cũng đã liệt kê danh sách đoàn đồng tế với ĐTC Phanxicô gồm: tất cả các vị hồng y hiện diện tại Rôma, cùng với 6 vị thượng phụ và tổng giám mục chính toà của nghi lễ Đông phương; vị thư ký của hồng y đoàn và 2 bề trên tổng quyền của Dòng Phanxicô và Dòng Tên, vốn là Chủ tịch và Phó Chủ tịch của Liên hiệp Bề trên Thượng cấp. Dự kiến có khoảng 180 vị đồng tế và họ sẽ ngồi phía bên trái nghĩa là trước các chức sắc các giáo hội chứ không phải các phái đoàn quốc gia.


Trước khi Thánh lễ bắt đầu sẽ có các nghi thức đặc biệt liên quan đến việc khai mạc sứ vụ Phêrô của vị Giám mục Rôma. Các nghi thức bao gồm:


- Trao dây Pallium:



Dây này được làm từ lông chiên và cừu. Dây này được đặt trên vai của ĐGH nhằm gợi nhắc đến chân dung vị Mục Tử Nhân Lành vác con chiên lạc trên vai đưa về nhà. Dây Pallium của ĐGH có thêu 5 Thánh giá màu đỏ trong khi dây Pallium của các vị giám mục có 5 Thánh giá màu đen. Dây Pallium ĐGH Phanxicô sử dụng sẽ giống với dây của Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI. ĐHY Tauran, Hồng y trưởng đẳng phó tế sẽ choàng dây Pallium cho ĐTC. Sau đó, ĐHY Daneels, Hồng y trưởng đẳng linh mục sẽ dâng một lời nguyện.

- Nhẫn Ngư phủ:



Thánh Phêrô là một vị tông đồ xuất thân làm nghề chài lưới đã được Chúa Giêsu kêu gọi để trở nên “ngư phủ lưới người”. Nhẫn Ngư phủ sẽ được ĐHY Sodano, Niên trưởng Hồng y đoàn, dâng lên ĐTC. Trên chiếc nhẫn này có khắc chân dung Thánh Phêrô cầm chìa khoá. Chiếc nhẫn này do Enrico Manfrini thiết kế, vốn trước đây là nhẫn của TGM Macchi, Thư ký riêng của ĐGH Phaolô VI, đã được Đức ông Malnati dâng lên ĐGH ngang qua ĐHY Re. Nhẫn này được chế tác lại bằng bạc mạ vàng.

- Nghi thức bày tỏ “vâng phục”



6 vị hồng y (2 đại diện mỗi đẳng giám mục, linh mục và phó tế) sẽ tiến lên bày tỏ lòng vâng phục đối với Đức tân Giáo hoàng. Cũng nên lưu ý rằng tất cả các hồng y cử tri đã bày tỏ vâng phục ĐGH tại Nhà nguyện Sistine lúc bế mạc Mật viện và tất cả các hồng y đã gặp ĐGH trong buổi tiếp kiến ngày sau đó tại Điện Clemente. Cũng vậy, theo dự kiến sẽ có đại diện của các thành phần Dân Chúa bày tỏ vâng phục với ĐTC trong nghi thức nhận ngai toà tại Nhà thờ Thánh Gioan Laterano, Nhà thờ Chính toà của Giáo phận Rôma.

Thánh lễ sẽ được sử hành theo Lễ Trọng kính Thánh Giuse với các bài đọc riêng (vì thế các bài đọc sẽ không trực tiếp liên quan đến lễ khai mạc sứ vụ Phêrô của ĐGH). Bài Tin Mừng sẽ được công bố bằng tiếng Hy Lạp để cho thấy rằng Giáo Hội hoàn vũ được xây dựng trên các truyền thống của cả Đông phương lẫn Tây phương. “Tiếng Latinh đã được đọc trong hầu hết các phần của Thánh lễ này rồi”, Cha Lombardi nói.


Đức tân Giáo hoàng sẽ giảng bằng tiếng Ý và như ngài vẫn thường làm, có thể sẽ không chỉ theo sát một bài giảng soạn sẵn nhưng có thể có những lúc ứng khẩu.


Cha Lombardi nói rằng vị chưởng nghi mong đợi rằng nghi thức sẽ không kéo dài quá 2 giờ và luôn được lưu ý để đơn giản hoá và tránh nghi thức quá dài. Sẽ không có phần dâng lễ vật vì các lễ vật sẽ được các thừa tác viên chuẩn bị bàn thờ mang đến. ĐGH cũng sẽ không trao Mình Thánh Chúa mà để cho các phó tế và các linh mục.


Sau khi kết thúc buổi lễ và thay lễ phục, ĐGH sẽ đến bàn thờ của đền thờ và sẽ chào từ biệt phái đoàn các nước vốn sẽ di chuyển qua lối này. Sau đó, ngài sẽ đến Nhà Thánh Mátta để dùng bữa trưa.


Các phái đoàn khác còn lưu lại Rôma sẽ gặp ĐHY Bertone, Quốc vụ khanh Toà Thánh, và Đức TGM Dominique Mamberti, Thư ký Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Quan hệ với các Quốc gia, trong ngày thứ tư (chẳng hạn như Tổng thống Brazil sẽ gặp để bàn về Ngày Quốc tế Giới trẻ sắp đến). Tưởng cũng nên nhắc lại, ĐGH sẽ tiếp kiến các phái đoàn của các Giáo hội Kitô anh em và các tôn giáo khác trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư.


Hiện tại, các phái đoàn dự kiến sẽ dự lễ gồm có:   


- 33 phái đoàn đại diện cho các Giáo hội Kitô anh em và các cộng đồng tôn giáo Kitô (14 từ Đông phương, 10 từ Tây phương, 3 từ các tổ chức Kitô giáo và các tổ chức khác). Trong số đó, sẽ có Đức Thượng phụ Giáo chủ Bartholonew I, Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp, Giáo chủ Danh dự của toàn Chính thống giáo; Đức Thượng phụ Giáo chủ Tối cao của Giáo hội Chính thống Armenia; Đức TGM Chính toà Hilarion của Toà Thượng phụ Matxcơva; nhiều vị TGM; Đức TGM Anh giáo Fykse Tveit, Thư ký Hội đồng Thế giới các Giáo hội.


- 16 phái đoàn của Do Thái giáo gồm: cộng đồng Do Thái tại Rôma; Uỷ ban Do Thái Quốc tế; Giáo trưởng Israel; Hội nghị Do Thái Thế giới…


- Và các phái đoàn của Hồi giáo, Phật giáo, Đạo Sikh và Đạo Jainist…


Đến nay, đã có đại diện của 132 nước xác nhận sẽ tham dự Thánh lễ.


Cha Lombardi nói rằng “các phái đoàn đến Rôma dựa theo thông tin được công bố bởi Phủ Quốc vụ khanh. Không hề có thư mời nào được gửi đi. Tất cả những ai muốn đến đều được nồng nhiệt chào đón. Không hề có bất cứ đặc ân dành cho phái đoàn nào. Thứ tự sắp xếp cho các phái đoàn sẽ phụ thuộc vào cấp độ ngoại giao khác nhau.


Tất nhiên, quan trọng nhất vẫn là các phái đoàn đến từ Argentina do Tổng thống nước này dẫn đầu và từ Ý do Tổng thống Napolitano và Thủ tướng Monti cùng Chủ tịch Thượng viện, Hạ viện và Toà án Hiến pháp nước này dẫn đầu.


Theo dự kiến, sẽ có 6 vị quốc vương (Bỉ, Monacô…); 31 lãnh đạo nhà nước (Áo, Brazil, Chile, Mexico, Canada, Balan, Bồ Đào Nha, Liên minh Châu Âu…); 3 thái tử (Tây Ban Nha, Hà Lan, Bahrain); 11 vị đứng đầu chính phủ (Đức, Pháp, Phó Tổng thống Mỹ…) và các phái đoàn do các đệ nhất phu nhân, phó tổng thống, phó thủ tướng, chủ tịch quốc hội, bộ trưởng, đại sứ và các chức sắc khác dẫn đầu.



Biên tập & chuyển ngữ từ Vatican News
Chỉnh Trần, SJ