Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

MẸ



Bích Phượng
"Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau
Mẹ như bể rộng trời cao
Ngọt dòng suối mát sáng sao chín tầng."
                         (Dáng mẹ hiền - Việt Hải)
Tình mẹ là biểu tượng thiêng liêng cao đẹp nhất, truyền thống thờ mẹ kính cha đã in sâu vào tâm hồn của người dân Việt và  văn hóa dân tộc Việt Nam. Người dân Tây phương có ngày lễ Hiền Mẫu, tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5 dương lịch...Cũng như người dân Việt Nam có ngày lễ Vu Lan để tỏ lòng kính yêu người thân mến nhất trên đời, tức là người Mẹ của chúng ta.
Mẹ là tất cả, là những gi ngọt ngào và trân quý nhất ...Từ lúc cất tiếng khóc oa oa chào đời đến lúc thân xác trở về với cát bụi, không ai có liên hệ mật thiết và dịu dàng với ta cho bằng Mẹ. Không ai yêu thương và chăm sóc ta cho bằng Mẹ. Mẹ cưu mang ta chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau, nâng niu bú mớm vỗ về yêu thương...
Gió mùa  thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày thức đủ năm canh
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương
                             Ca Dao Việt Nam
Mẹ vui với niềm vui của con thơ, đau đứt cả ruột gan mỗi khi chăm sóc con trẻ ốm đau, Người vui trong cái vui nhỏ bé nhất, đau khổ trong cái khổ đau lớn nhất ...Suốt cuộc đời, đời mẹ đã gắn liền với đời con...Mẹ là dòng suối trong, là bóng mát dịu êm che chở và nuôi nấng ta lớn khôn, là chốn ta tựa nương tháng năm... Chỉ có trong vòng tay yêu thương của mẹ ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, thơm nồng nàn như "chuối ba hương", dịu như "xôi nếp một" và đậm đà ngọt lịm như "đường mía lau".
Mẹ, Mẹ là lọn miá ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm mương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời...
                    (Bông hồng cài áo - Thích Nhất Hạnh)
Mẹ là tình thương . Tình mẹ là nguyên thủy , là cội nguồn của mọi tình cảm thương yêu. Như dòng nước trong nguồn chảy ra, tình mẹ là bất tận. Mẹ yêu thương con, vô bến bờ, vô điều kiện. " Không có tình yêu nào hơn được tình của người thí mạng vì người mình thương. Đây mới là cách dựng xây tình yêu đích thật, bằng hy sinh quên mình " . . Trái tim mẹ chan chứa tình người, hy sinh, chịu đựng, sẳn sàng cho đi mà chẳng bao giờ chờ  hồi đáp lại ...
Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.
Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.
Thương con thao thức bao đêm trường,
Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao.
Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn.
Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền.
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm.
Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên...
                       (Lòng Mẹ -  Y Vân)
 Mẹ là vị giáo sư đầu tiên dạy cho ta biết thế nào là yêu thương, biết thể hiên tình yêu và cảm nhận tình yêu... Tục ngữ Việt nam có nói: "mất mẹ liếm lá đầu đường" ...Không có mẹ trái tim ta trở nên khô héo vô tình...
Mẹ là Thơ.Trong ngôn ngữ thi ca của thế giới, dân tộc nào cũng có những vần thơ chứa chan tình mẹ.
Only One
Hundreds of stars in the pretty sky;
Hundreds of shells on the shore together;
Hundreds of birds that go singing by;
Hundreds of bees in the sunny weather.
Hundreds of dewdrops to greet the dawn;
Hundreds of lambs in the purple clover;
Hundreds of butterflies on the lawn;
But only one mother the wide world over.
                    George Cooper (1820 - 1876)
Mẹ chỉ một mà thôi !
Trên trời lấp lánh hàng trăm vì sao
Dưới biển trăm ngàn ốc đảo xinh xắn
Hàng trăm loài chim đua hót cùng nhau
Trăm chú ong thảnh thơi bay trong nắng
Trăm giọt sương mai chào đón ngày mới
Hàng trăm cừu non nhởn nhơ trên đồi
Trăm con bướm lạ đùa vui bay lượn
Nhưng trên đời, mẹ chỉ một mà thôi!
                       (Diễm Vi phỏng dịch)
Mẹ là kết tinh, là nguồn sống của tất cả những thiên anh hùng ca, những đại sử thi, những trường thiên tình sử và cả trong những vần thơ đường thi đơn sơ, thâm thúy. Thế giới Đường thi là một thế giới huyền thoại thần tiên thoát tục, phong phú, đa dạng, bát ngát, vô biên, vô tận...Những bài thơ Đường Thi thường đậm nét trung- hiếu - nhân- nghĩa...Nhà thơ thời Trung Đường Mạnh Giao đã vinh danh hình ảnh người mẹ hiền qua bài "  Du tử ngâm " :
DU TỬ NGÂM
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
                Mạnh Giao
KHÚC NGÂM CHO ĐỨA CON ĐI XA
-Bản dịch của Trần Trọng San:
Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay
Khâu lên tấm áo trước ngày con đi
Đường kim khăng khít chinh y
Sợ con chậm trễ không về lại ngay
Ai rằng tấc cỏ lòng này
Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân?
Bản dịch của Trần Trọng Kim
Mẹ từ sợi chỉ trong tay
Trên mình du tử áo may vội vàng
Sắp đi mũi chỉ kỹ càng
Sợ con đi đó nhỡ nhàng trễ lâu
Chút lòng tấc cỏ dễ đâu
Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho người
Hình ảnh người mẹ già chịu đựng đớn đau một đời như những bà mẹ Việt Nam,  trong cảnh khói lửa triền miên ly loạn, giữa tang thương đổ nát điêu tàn, lặn lội nắng mưa, gánh nặng vai gầy sương gió, lưng còng lam lũ nhọc nhằn, chua xót đau quặn thắt ruột gan khi những người con du tử của Mẹ ra đi bảo vệ giang sơn gấm vóc, như những cánh chim bạt gió bay đi không hẹn ngày về...Mẹ già ngồi khâu chiếc áo nghĩa tình, gửi từng sợi nhớ sợi thương vào từng mũi chỉ đường kim, thầm mong manh áo có thể đủ sưởi ấm thân con trên con đường lưu lạc viễn xứ tha phương nơi đất khách quê người.
 Mẹ là câu ca dao, là tiếng hát ru hời. Từ khi còn nằm nôi, lời ru của mẹ dắt dìu con thơ chập chững vào đời.
Gió mùa thu mẹ ru mà con ngủ
Năm (ơ) canh chày,
Năm (ơ) canh chày, thức đủ vừa năm
Hỡi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi
Em nhớ tới chàng, em nhớ tới chàng
Hãy nín nín đi con, hãy ngủ ngủ đi con
Con hời là con hỡi, con hỡi con hời
Con hỡi con hời, hỡi con!
                         (Ru con- Dân ca Nam Bộ)
Hình ảnh người mẹ hiền đong đưa võng, ru con trong những buổi trưa hè oi bức hay trong những đêm trường, vò võ thức đủ năm canh cho ta thấy tình yêu của mẹ sâu diệu vợi, bao la như biển cả, êm ả như tiếng sáo chiều thu, ngọt ngào như cơn mưa đồng nội:
Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn, đong đưa võng buồn
Mẹ ngồi ru con mây qua đầu ghềnh, lạy trời mưa tuôn
Lạy trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
Mẹ ngồi ru con nước mắt nhọc nhằn xót xa đời mình
                                          Trịnh Công Sơn

Tình mẹ như hơi thở sưởi ấm lòng các con trong những ngày lữ thứ xa quê hương. Trên bước chân phiêu dạt xứ người, thời gian âm thầm trôi qua những tháng ngày phiền muộn nhớ thương, tưởng nhớ về mẹ luôn âm ỉ trong lòng từng đứa con du tử
Thấm thoát ra đi mấy độ rồi
Nhớ về quê mẹ mãi không thôi
Bao năm xa vắng lòng ray rứt
Nấc nghẹn tuôn trào lệ đắng môi
Mẹ ơi, con yêu nhớ mẹ nhiều
Âm thầm lăng lẽ dạ xót xa
Phố lạ gi ờ đây con lỡ bước
Lẫn thẫn lang thang mỗi sớm chiều...
                         (Nhớ mẹ - thơ VK)
Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Có bao giờ ta quên được những nụ cười hiền hoà, những ánh mắt trìu mến của Mẹ đã dành cho ta? Cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay, trái tim chúng ta sẽ vẫn còn rộn ràng xúc động khi nghe tên Mẹ, vì mẫu tử là tình yêu vĩnh cửu. Tất cả đều là hiện thân của mẹ.
Cám ơn mẹ đã là mẹ của con và  đã  yêu thương con... Giờ  đây con cũng đã  là  mẹ , con đã hiểu thế nào là tấm lòng của mẹ . Nơi phương xa, con thành tâm dâng về mẹ lời nguyện chúc bình an...Con gái vẫn yêu mẹ suốt đời!
Mẹ chờ con gái đã lâu
Lấy chồng xứ lạ đêm thâu nhớ nhà
Bây giờ ở xứ người ta
Nguyện cầu cho mẹ tuổi già bình yên...
                 (Nửa đêm nhớ  mẹ - thơ Việt Hải)

(Nguồn: Vui sống mỗi ngày @ Blog)

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

NHỮNG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN KHÔI


Kontumquehuongtoi xin trân trọng giới thiệu những sáng tác của NGUYÊN KHÔI.
NGUYÊN KHÔI, tức Linh mục Pet. Nguyên Khôi, Giáo phận Kontum.
Những ca khúc sáng tác lúc chưa làm Linh mục.

TỪ ĐỜI THƯỜNG...


TÌNH THẦY CÒN MÃI

ĐIỀU CHƯA KỊP NÓI

LỜI GỌI YÊU THƯƠNG

RỒI SẼ ĐẾN

HOÀI MONG

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

Một "chút xíu" mừng Kon Tum 100 năm tuổi!


Đóng góp một "chút xíu" mừng Kon Tum 100 năm tuổi (1913-2013)!
LMS.




(Nhấp vào ảnh để xem to!)
________________________________________

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

Công nghệ Cafe phân voi

Từ những quả cà phê trong phân voi, người ta đã tạo ra loại cà phê có mức giá lên tới 1.000 USD cho mỗi kg.

Một người phụ nữ nhặt phân voi để lấy hạt cà phê tại vùng Tam Giác Vàng.
Một người phụ nữ nhặt phân voi để lấy hạt cà phê tại vùng Tam Giác Vàng - Ảnh: AP.
Trong khu vực Tam Giác Vàng - nơi tiếp giáp biên giới của Thái Lan, Lào và Myanmar - những con voi đang sản xuất một trong những loại cà phê đắt nhất hành tinh. Chúng tham gia vào quá trình sản xuất cà phê của Blake Dinkin, một người đàn ông mang quốc tịch Canada. Quản tượng cho voi ăn những quả cà phê rồi lấy hạt từ phân của chúng một ngày sau đó. Quá trình tiêu hóa trong ruột voi tạo ra một vị rất đặc biệt cho cà phê.
Tháng trước Dinkin vừa công bố Black Ivory, tên của loại cà phê từ phân voi. Giá bán hiện tại của một kg cà phê Black Ivory là 1.000 USD. Còn trong các khách sạn, để thưởng thức một tách cà phê phân voi, thực khách phải chi 50 USD. Dinkin mới chỉ sản xuất được 70 kg cà phê Black Ivory và phân phối cho một số khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp.
Hẳn nhiều người sẽ muốn đặt câu hỏi: Tại sao cà phê phân voi đặc biệt và giá của nó cao thế?
"Một loại protein gây nên vị đắng trong cà phê. Khi voi ăn quả cà phê, axit trong dạ dày của chúng phân hủy protein đó. Nhờ đó chúng tôi thu được loại cà phê không có vị đắng như cà phê thông thường", Dinkin, người đã đầu tư tới 300.000 USD để phát triển thương hiệu Black Ivory, giải thích.
Nguyên liệu của Dinkin là những quả cà phê Arabica trên đồi. Voi được cho ăn quả cà phê, và sau khi chúng bài tiết, những người phụ nữ sẽ nhặt quả cà phê trong phân. Người ta rửa quả cà phê rất kỹ trước khi tách hạt rồi rang, xay.
Công nhân chỉ chọn những quả cà phê không vỡ từ phân voi. Rất nhiều hạt vỡ trong quá trình tiêu hóa của voi, hoặc bị lẫn vào đám cỏ cao khi voi thải phân
Công nhân chỉ chọn những quả cà phê không vỡ từ phân voi. Rất nhiều hạt vỡ trong 
quá trình tiêu hóa của voi, hoặc bị lẫn vào đám cỏ cao khi voi thải phân - Ảnh: AP.
Người ta từng biết tới cà phê phân chồn, cũng là một đặc sản. Nhưng cà phê phân voi có một điểm khác biệt so với cà phê phân chồn, bởi hoạt động tiêu hóa diễn ra rất chậm trong dạ dày voi. Chúng cần tới 15-30 giờ để tiêu hóa những quả cà phê. Khi dạ dày voi co bóp, nó trộn hạt cà phê với chuối, mía và nhiều loại thức ăn khác của voi. Quá trình trộn lẫn khiến cà phê Black Ivory có vị của nhiều loại trái cây.
"Một quá trình lên men tự nhiên diễn ra trong dạ dày voi. Nó tạo nên những vị độc đáo mà bạn không thể cảm nhận từ những loại cà phê khác", Dinkin khẳng định.
John Roberts, giám đốc chi nhánh Tam Giác Vàng của Quỹ Voi châu Á, ủng hộ ý tưởng của Dinkin.
"Lúc đầu tôi cảm thấy băn khoăn vì không biết liệu lũ voi có thể nghiện chất caffeine hay không? Nhưng hiện tại chúng tôi có thể khẳng định hạt cà phê không gây nên bất kỳ mối nguy nào đối với voi", Roberts phát biểu.
Dinkin kể rằng, trước khi đề xuất ý tưởng sản xuất cà phê phân voi với Quỹ Voi châu Á, ông đã nhờ một bác sĩ thú y tại Canada thử máu của những con voi ăn quả cà phê. Kết quả cho thấy chất caffeine trong quả cà phê không ngấm vào máu voi.
"Tôi nghĩ ý tưởng của Dinkin rất đáng được thử nghiệm, bởi chúng tôi đang tìm cách để voi có thể tạo ra tiền. Hiện tại chi phí để nuôi mỗi con voi lên tới 1.000 USD mỗi tháng", Roberts nói.

Đặc sản Tây Nguyên - Câu chuyện Sản Phẩm
Minh Long - Theo VnExpress

Một đêm ở rạp hát An Nam



E.GRAS
(Chủ sự Tài chính An nam, Huế 1910)
Vào một buổi tối ở vùng Gia Hội, cuối con đường hẹp đầy ổ gà, chỉ có ánh sáng lờ mờ của những cây đèn tim ở bọng của những túp nhà tranh An nam, và đây là một ngôi nhà lớn hơn, sau dãy hàng rào bông bụt và chè tàu dưới rặng tre sẫm bóng.
Một đêm ở rạp hát An Nam
Một vở tuồng Annam - Ảnh: internet
Một chiếc xe kéo chở ta đến đó, bằng cách đi theo một đoạn ngắn gập ghềnh của một con đường bùn trong đầm oai à không có sao hoặc dưới cái trong trẻo của một vừng trăng sáng bạc. Người nhà ở chợ quanh ngoại ô sợ bất trắc, và nguy hiểm của bóng đêm, nhưng có cái trong trẻo của ánh trăng không đâu bằng xứ này, khiêu gợi, thì họ vội vàng, kéo nhau đến đây, và gian phòng sẽ chen chúc đầy người, tỏa ra cái hơi hâm hẩm của phòng tắm hơi. Tối đến là bắt đầu hát ngay, vì điều lệ cảnh sát buộc phải nghỉ hát vào nửa đêm. Cách đây không lâu một vở tuồng còn phải diễn đi diễn lại trong nhiều ngày, nhiều đêm, không ngừng và không hề làm suy giảm cái vui thú của người dân ở đây vốn ham thích những trò vui chẳng khác gì trẻ con.

Nội dung của các tuồng không có gì mới cả: Kẻ nịnh bị lột mặt nạ, người ngay được tưởng thưởng, theo như cách của vở “vàng thau”. Nhân vật thường là vua, hoàng tử, chiến sĩ, hoặc người quý phái; Tác giả là quan chức hay trí thức muốn nhân cơ hội giới thiệu các vở tuồng mà họ sáng tác để tỏ ra mình là người trung thần: người quân tử.

Tuy nhiên không một vở tuồng nào trôi chảy nếu không có sự can thiệp của ma quỉ. Thần tốt hay xấu thỉnh thoảng thể hiện linh hồn của nhân vật ngoài đời.

Như vậy ta có thể hiểu ngay ý nghĩ của các nhân vật. Có thể phức tạp về ý nghĩ nhưng rất lộ liễu về phương tiện, tuồng hát không có gì bí mật. Người nhắc tuồng xuất hiện trên sân khấu và nhắc to. Như vậy là được nghe hai lần, nhưng chỉ trả tiền một vé.

Các mánh lới và các sập bẫy người xem không có: diễn viên bước lên ghế đẩu được xem như là leo núi, quàng dây có lục lạc vào đùi được xem như là phi ngựa. Người bị thương đi tìm ở góc vài chiếc khăn đỏ cuốn lại với nhau và cột vào dây lưng để chỉ là bị lồi ruột. Người đang nằm chết đứng dậy và đi vào sau màn một cách tự nhiên khi nghĩ rằng khán giả đều đã rõ được cái chết đó và xét thấy nằm đó không cần thiết nữa.

Nhưng ma quỉ thì không có cách biến mất như người trần gian được. Người ta tung trước mặt khán giả một ít bột bốc lửa mà người tàu đã chế ra. Một anh phụ màn đem bột đến với một que lửa đỏ hay một chùm vải đang cháy và ném bột vào tạo thành những chùm tia lửa, để cho ma quỉ trốn xuống dưới bàn. Đôi khi đơn giản hơn, nhưng táo bạo hơn, người phụ màn uống một ngụm dầu hỏa phun vào một cái vá nung đỏ. Sau sân khấu có một bậc sàn cao có màn che khuất được dùng để làm trời. Thỉnh thoảng lúc cần nó được hé mở, một nhân vật đã chết sớm nhưng có điều chưa nói hết có thể xuất hiện tại đó và nói thêm; một ông sơ có thể hiện ra tại đó để cho biết là bọn cháu hai đời đã làm ông phật lòng. Và cứ như thế tuồng hát tiếp diễn.

Ở trong rạp hát người An nam không quen la ó để chê dở cũng như không biết vỗ tay để khen hay. Những người nào ngày nay mà biết làm như vậy là do học hỏi chúng ta. Chỉ có các loạt tiếng chầu thình thình của hai cái trống lớn để hai bên sân khấu làm vai trò chuyên môn thay người vỗ tay, là điểm nhịp cho những tiếng rống nửa mồm, nửa mũi của những diễn viên khi thì nhảy lên, khi thì gào thét, khi thì trợn mắt dữ tợn, khi thì vuốt râu, khi thì lồng lộng như lên cơn co giật, khi thì đứng khựng lại trong tư thế uy nghi với những cử động như người máy, khi thì hát lên chậm rãi thành độc tấu dẳng dai.

Khúc hát hoặc khúc ngâm không phân biệt được với nhau, và luôn luôn đó chỉ là một làn điệu chậm rãi của một chuỗi đơn âm kéo dài hoặc nặng nề hoặc vút cao, và người An nam trong khi đi xem tuồng thì chỉ nói là đi xem hát.

Và diễn viên luôn luôn phải đấu tranh hơi tiếng với cái dàn nhạc dã man, lạc hậu và ầm ĩ, trong đó ngoài trống thình thình, tiếng sanh lắc cắc, tiếng phèn la phèng phèng, tiếng xập xõa bằng sắt tây xoèn xoẹt, tiếng đàn cò eo ét và tiếng rít dài nhột lỗ tai của cây kèn bầu. Hiệu quả của hòa tấu đó như thế nào? Đôi khi có nhân vật tức bụng mà đẻ con trên sân khấu; và người phụ màn lại phải mang đến một con búp bê cho đào hát để đeo vào thắt lưng.

Để cho đầy đủ hơn thì nên nói rằng, hát tuồng Annam thực chất là hát tuồng của Tàu bởi vì các tác phẩm đều viết bằng chữ nho, nên đám nhà quê hôi hám, rách rưới ngồi chen chúc trên các đà tre như khỉ ngồi trên cành cây và ngay các diễn viên nói chữ như vẹt đều chẳng hiểu gì mấy, và thậm chí không hiểu gì là đằng khác. Chỉ một vài nhà nho rất hiếm mới thưởng thức cái niềm vui thanh tao qua nội dung của vở tuồng. Ngồi trên ghế danh dự, hớp nước trà hay kéo cần điếu, dài vắt vẻo do đứa tớ quỳ một bên dâng tới, hít một hơi dài, rồi phà khói đặc vào không gian mồm, mũi mở to lâng lâng bên cạnh có thằng bé đang quạt hầu, hoặc dâng ống nhổ bằng đồng, hoặc dâng hộp cau trầu, thì ông này mới là người thưởng thức được một cách sành sỏi các đoạn tuồng hay.
 
Những diễn viên của rạp hát Annam - Ảnh: internet

Ngồi xa và riêng biệt, ông này thể hiện cái sành sỏi của ông bằng cách nện đùi trống to vào cái trống đẹp kê vừa tầm tay, hoặc ném cho diễn viên những thẻ gỗ nhỏ mà sau buổi trình diễn người thu tiền sẽ đếm theo số thẻ mà thu những trự kẽm. Thỉnh thoảng cũng có những đoạn hát chêm ngắn bằng tiếng nói thông thường để cho người diễn tuồng cương. Có tên tabarin xứ da vàng, triển khai tài hí hước và đem đến sự vui thú cho những người bình dân thích vui cười ưa tếu ngạo có tính khí như tính khí của người Tây phương. Trong khi đó có nhiều thằng nhóc con lêu lỏi giữa những hàng ghế chật chội, tài tình như con mèo con khỉ, trên tay có cái mẹt, bán quýt còn xanh vỏ hoặc là cau trầu vôi để cho mọi người Annam từ công chúa vàng son, cho đến thằng cu li mạt hạng mua lấy mà ăn cho cái má nó phình ra, cho cái môi nó đỏ loét.

* * *

Trong những ngày kỵ lớn, một bàn thờ được đặt trên bệ riêng, người ta đặt lên đó những cái tượng bằng sáp tượng trưng cho các diễn viên đã mất, thường ngày được cất giữ trong phòng ở hậu trường. Trước các tượng là cúng cơm, trái cây, thịt, hoa, những nén hương khói xám bốc lên, và những nến thắp đỏ không nhiều khói. Trong các buổi tối đó, thì không diễn tuồng hát mà diễn một cảnh thần tiên đại náo. Những con vật kỳ dị, cá khổng lồ, trâu rồng, kỳ lân, hổ dữ tợn, được làm bằng giấy đánh nhau theo phe hoặc là giao hợp với nhau một cách ngây ngô trước mắt mọi người, giữa những loạt pháo nổ, các chùm tia lửa và các ánh chớp của bột bốc lửa đỏ và xanh. Cuộc lễ tiếp tục bằng một đợt múa trống vũ ba lê: độ hai mươi phụ nữ và thanh niên đội mũ giống như mũ giải phóng cổ La Mã, mặc áo đỏ và xanh bó sát thân hình, đốt chân cuốn xà cạp trắng hoặc xanh, bàn chân trần, mỗi người gánh hai chiếc đèn lồng nhỏ bằng giấy màu có trang trí bằng vòng hoa, hát giọng the thé khớp nhịp với những động tác chậm rãi và duyên dáng lộn vòng xen kẽ; xoáy người trên ngón chân, múa cánh tay, bàn tay đồng đều và thẳng hàng.

Đối với người Pháp, thì cảnh múa ấy có khuyết điểm, là đều đều và quá kéo dài, không có một màn nghỉ xen kẽ.

Thôi thì yên lòng mà cắt ngang nó đi để đến xem hậu trường của nghệ sĩ. Cái phòng sau là phòng chung với một cái bộ ván cho nam diễn viên và một cái khác cho nữ diễn viên, hóa trang lạc hậu, ánh sáng không đủ, áo quần làm tuồng cũng như ở nước chúng ta, nếu được nhìn gần thì chẳng ăn khách chút nào. Người ta có thể xem như là chỗ ở tạm thời của một gánh hát rong trong một vựa lúa. Cũng như ở nước chúng ta ánh đèn sân khấu có mặt trái của nó. Trong một góc, bất động, mắt mờ, một diễn viên già nua đã hóa trang đang đợi ra diễn: người này mù nhưng thói quen lên sân khấu và đồng nghiệp che dấu, nên vẫn đảm nhiệm được những vai mà chẳng ai nghi ngờ gì cả...

Dù có biểu diễn thế nào đi nữa, ngộ nghĩnh hay đặc biệt. Dù các màn trình diễn kỳ thú và đặc biệt ra sao đi nữa, thì quần chúng dường như chẳng hiểu gì cả, cái mù tịt đó cũng như tính khí tự nhiên của họ giải thích cho ta thấy được sự thụ động, sự trì chí vô tư của họ khi đi xem hát. Đi xem hát chẳng qua là một thói quen của lễ tục. Ở xứ này thì cái gì cũng lễ tục, tôn giáo lẫn lộn với cuộc sống, nên nhân thể họ trải qua hằng giờ để nói chuyện về việc riêng, hút thuốc, cười cợt, nhậu nhẹt, và nếu cần chạy ngay qua sân khấu. Như là chuyện thường. Sân khấu là một sàn không cao, nằm giữa rạp không hậu trường, một phía thông với phòng hóa trang bằng hai cửa hông được trổ ra ở hai bên sàn lên trời.

Trật tự và lịch sự phải được duy trì khắp nơi; do đó một bên này của tầng cấp được dành cho nữ, và bên kia dành cho nam, ở giữa là bệ danh dự dành cho các quan khách, và trên trần có treo chiếc quạt trần được kéo dây do thằng bé không mặc áo bẩn thỉu, hắt qua hắt lại từng bụm gió, tuy có mát một chút nhưng chẳng thơm tho gì. Người ta có thể đi vòng quanh rạp hát, núp sau bóng tối của hàng cọc tre để giữ các tầng cấp và không phải là không có lúc các khán giả bị nhét trong hộp cá mòi đã thả xòe vào các cọc ấy.

Nhiều lò nấu giữa trời, nhiều sạp bán đủ thứ thực phẩm; bên cạnh chỗ ăn món ăn tinh thần, một sân đồ ăn thực chất hơn phảng phất những mùi vị không nhẹ lắm đối với mũi người Châu Âu, trong đó có nước mắm.

Một người Tàu bán cơm bình dân, mình trần sạch nhẵn lông đuôi sam cuốn quanh đầu trọc, môi thừ lừ, trông giống như nửa thần nửa vật đang chạy lăng xăng xung quanh những ông viên chức, các nữ nhân thanh lịch đang hớp nước trà, hay rượu, tự động hay bị bắt buộc, trong những cái chén sành nhỏ, có màu sắc. Các ông này, mặc áo quần An nam được âu hóa nhờ những cái mũ đệm kiểu trung Mỹ, hay cái mũ nỉ đen; quần rộng màu trắng, thướt tha trên các đôi giày đen bóng loáng, ra dáng tự đắc hoặc an nhàn, hãnh diện với cái hãnh diện nhà quan, nhờ có cây dù bất chấp thời tiết luôn mở ra, che cho các sợ hãi ma quỉ, sợ hãi gió máy về đêm ở nơi người cầm dù, và cũng mở ra ngay cả những đêm trăng tỏ. Các nữ nhân là của đạo quân đeo đồ trang sức, mặt phấn, môi son, mày cao sắc lẽm trong khuôn mặt trắng như vôi, tóc đen và láng do chải dầu dừa, tóc cài hoa lài, tay đeo xuyến, cổ đeo dây chuyền vàng, có người lừ đừ hút những điếu thuốc nhỏ, ngồi trên chiếc ghế đòn, đầu gối tới cằm, ngón chân cái kẹp vào chiếc giày cườm, cái liếc sắt ngót xuyên qua khóe mắt. Người khác thì phe phẩy khăn hoặc quạt, đi lui đi tới guốc gỗ sơn, cao đu đưa một cách duyên dáng cái thân hình mảnh mai uốn éo trong những áo dài lụa nhiều màu ôm chặt đôi vú nhỏ, và bó đôi cánh tay suôn đuổn, và trong những cái quần rộng mềm mại cử động nhẹ trên mông. Tất cả đàn bà trẻ ngây thơ này, bằng lời tiếng rỉ rã cao thấp nói với nhau về những điều này nọ nhoẽn cười với cái đen của những hàm răng nhuộm thuốc rỏi, và khép mắt nữa cho đôi mắt càng híp. Những nàng muốn được lòng người Tây phương, thì không nhuộm răng mà để hàm răng trắng nõn.

Bên ngoài một nhóm chủ tiệm và thương gia Tàu chếnh choáng, xương xẩu rã rời, vai teo tóp, trong những cái vét chật và quá dài hoặc có người thì thù lù bụng phệ trong những áo khoác màu xanh rất ngắn mang đôi tất bó trong quần xà lỏn lụa trên đôi giày nỉ dày cộm, chụp như cái nôi trên đầu chiếc mũ nỉ phùng phình hay chiếc mũ lưỡi trai bằng vải mềm, làm cho họ giống như những người bộ lạc Bắc Mỹ, đi lắc lư trên đôi chân cáng náng, và phát ra những tiếng cười ô ô. Một vài người Ấn Độ cái xà rông cuốn quanh hông, đi chậm rãi, chiếc mũ chõm láng lẩy chụp lên cái sọ đầu đen thui giống như những lọ mực đen có nắp vàng. Những trẻ con chõm tóc bay lưa thưa trên cái đầu trọc, chiếc áo cụt màu vàng để hở lỗ rún hay làm màng che cho cái mông đít bụ bẫm, đang kêu gọi và xô đẩy nhau. Nhiều bà già khô đét, nhăn nheo, nhai trầu má phồng ra khàn khàn la mắng trẻ và nhổ bọt nước trầu đỏ loét. Những người kéo xe, quần cụt, đầy mồ hôi thở dốc chạy nhanh tránh nhau, chạm vào nhau, kêu nhau dưới làn roi của cảnh sát, gây chật chội cho cửa nẻo và đường đi, kéo ngược và kéo xuôi các chiếc xe lắc lư trong đêm tối, cùng với các đèn gương chập chờn như những đom đóm và các cây đèn nhỏ trên xe như bầy đôm đốm lập loè tung tóe trong những vòng quay loanh quanh của bánh xe. Những cây đèn dầu hỏa lờ mờ chiếu những tia sáng vàng vọt, yếu ớt, màu đồng và thau rỉ vào trông cuộc sống nhung nhúc, bụi bẩn từ đời nào để lại.

Chỉ cần bỏ ra năm mười xu, bằng giá hai mươi lăm xu tiền Pháp, là ta có thể thưởng thức được tất cả những gì vừa nói, kể cả chén trà được chiêu đãi một cách lịch sự do nhà hát.

Những ngài quận công của Triều Nam cũng không cho nhiều hơn thế.

Chúng ta có thể rước cả đoàn ca vũ và dàn nhạc về nhà với giá mười lăm đồng bạc, tiền của vua. Và chẳng cần đến người bán vé, người xếp chỗ, tránh được người xin tiền: ở đây người ta không có tục lệ thưởng tiền phục vụ. An nam là một xứ sở tuyệt vời.

E.G
(Theo B.A.V.H)
(Tạp chí Sông Hương, số đặc biệt T.3-13)

Philipphê Bỉnh - Nhà văn hóa quốc ngữ đầu tiên, bị lãng quên



HOÀNG HƯƠNG TRANG 

Chữ Quốc Ngữ (Q.N) viết theo dạng 24 chữ cái ABC xuất xứ từ các Thầy Dòng truyền giáo Tây Phương mang vào nước ta, cho đến nay gọi là được phổ biến trên dưới trăm năm, gói gọn vào thế kỷ 20.
Philipphê Bỉnh - Nhà văn hóa quốc ngữ đầu tiên, bị lãng quên
Hai trong số những trang sách của Philipphê Bỉnh
Trước đó nữa, phổ biến vẫn chỉ là chữ Hán, chữ Nôm, tiếp đến là chữ Pháp rồi mới đến Q.N. Các cụ xưa, chẳng mấy ai đưa ngôn ngữ bình dân đại chúng vào tác phẩm, vì thế ngày nay, những nhà ngôn ngữ học, hay nghiên cứu về văn hóa dân gian, gặp không ít khó khăn. Đa số sách chữ Nôm là khá gần ta nhất, thì cũng toàn văn vần, thơ, phũ, biền ngẫu, thoát thai từ Hán văn, văn Hán và Nôm đều quá sơ lược, đơn gọn, không phản ảnh được đúng ngôn ngữ bình dân, mà qua thời gian, dòng ngôn ngữ ấy đã biến thiên rất nhiều.

Thuở ấy, chưa phải là xưa lắm, đến cái chữ Nôm còn bị dè bỉu là “mách qué”, đã học là phải học chữ Hán mới đúng “cửa Khổng sân Trình”, huống hồ cái chữ Q.N, bị coi là thứ chữ “Bò ngang như cua” của Tây Dương đem lại. Do đó, chữ Q.N đã được khai sinh và hoàn chỉnhkhá lâu, từ thời Trịnh Nguyễn, nhưng chỉ dùng cho các vị Cố Đạo, thương nhân nước ngoài, mặc dầu đã có tự vị hẳn hoi, mà vẫn còn xa lạ với người đi học. Nề nếp và ổn định thì chỉ trên dưới trăm năm thôi, giai đoạn đầu cũng chỉ học thuần chữ Pháp, mãi mới chuyển Q.N được. Nhưng từ khi phổ biến bộ chữ Q.N là ta gặp ngay mọi sự dễ dàng, trong khi đó, những nước dùng chữ tượng hình như Tàu, Nhật, Hàn, và các nước theo chữ Á Rập rất khó hội nhập với các nước có bộ chữ cái La Tinh. Ta rất may mắn, tuy rằng mấy nghìn năm lệ thuộc Phương Bắc, thế mà khi có chữ Q.N, ta nhanh chóng, dễ dàng vượt thoát ra khỏi cái vòng đai khổ ải của thứ chữ tượng hình như vẽ bùa ấy.

Trước giờ các nhà nghiên cứu hầu như đồng ý với lập luận rằng, chữ Q.N được khai sinh bởi cha đẻ A. De Rhodes, Béhaine hoặc một vài vị cố đạo đồng thời, và cũng chỉ nghĩ rằng, chỉ có các vị cố đạo nước ngoài như thế thôi, thật là thiếu sót và oan uổng! Thật ra ta đã có một vị Thầy Cả thuần chất, sinh năm 1759 đến 17 tuổi vào tu ở nhà Dòng, rồi đi chu du nhiều nước, ông viết nhiều sách, soạn và san định nhiều bộ tự điển đầu tiên cho người Việt dùng. Bằng chữ Q.N chính hiệu, mà ngày nay đọc nó vẫn còn trôi chảy, vẫn hiểu như ngôn ngữ ta dùng hiện nay. Ông viết bằng thứ văn xuôi như nói chuyện, nói sao viết vậy. Chuyện ông viết vừa nhật ký, ghi chép biên niên, hoạt động của Dòng Chúa, của nhà thờ, của Giáo Hội trong và ngoài nước, sinh hoạt ngày thường của xã hội ta, xã hội Tây Phương, các nước ông đã đến, các nghề nghiệp lúc bấy giờ, cách ăn uống, ăn mặc, tế lễ, tang ma, ông quan sát rồi vẽ ra những vật dụng ta chưa làm được, như cái bàn in để in tranh tượng thờ, cái bàn nghiền bột thô sơ để lấy bột làm bánh thánh, cái máy dệt cổ sơ của tây phương, ông ghi chép, vẽ lại tỉ mỉ mọi sinhhoạt xã hội, so sánh cách sống văn minh hơn, có khoa học hơn, vệ sinh hơn của xã hội tây phương với cách sống còn lạc hậu, thiếu vệ sinh, thiếu khoa học của dân ta. Từ cách nhà thoáng mát, sơn quét đẹp mắt, giường nệm trắng tinh, phòng ngủ phòng ăn tươm tất, bữa ăn nhiều chất đạm, nuôi con sạch sẽ không mớm cơm nhai như các bà mẹ ta thời ấy... tất cả được viết lại bằng một thứ chữ Q.N, văn nói bình dân, đầy đủ, lưu loát, dễ hiểu.

Toàn bộ sách của ông, có cuốn đã in, có cuốn viết tay, kể cả những bộ tự vị mà ta biết của các vị cố đạo, những bộ được đánh giá là “Tối cổ”.

Ông, một người Việt thuần chất, viết cho người Việt đọc, chúng ta không ai biết ông, hầu như chưa ai nhắc tới ông bao giờ, ông đã bị lãng quên!

May thay, một số sách của ông còn lưu giữ kỹ càng ở thư viện Tòa thánh Vatican, được cầm trên tay những trang sách viết nắn nót của ông, thật bồi hồi xúc động, trên 200 năm trước đã có một con người Việt Nam như thế. Ông là Thầy Cả Philipphê Bỉnh, ông không để lại cho chúng ta một hình vẽ, một pho tượng nào cả, nhưng chân dung ông thì rất rõ nét. Ông là người Việt Nam viết văn Q.N đầu tiên, khác hẳn với tính cách những nhà truyền giáo nước ngoài đồng thời với ông. Tiếc là ông đã không ghi họ gì, chỉ ghi tên Thánh trước tên thật, ông người xứ Hải Dương, phủ Hạ Hoàng, huyện Vĩnh Lại, xã Ngãi An, thôn Địa Linh, sinh năm 1759, 17 tuổi vào Dòng tu, rồi đi chu du nhiều nước theo các Dòng thánh, ông đã sống ở nhiều nước tây phương và Á Châu, ông không nhắc gì đến quãng đời thơ ấu, cha mẹ, anh em, do đâu mà ông đi tu, chỉ nói sơ lược đến quê quán. Ông đi tu và học ở trường Kẻ Vĩnh lúc 17 tuổi (1775), đến 1793 ông được thụ phong linh mục, cuộc đời học vấn và tu tập gần ngót 20 năm ông ghi đầy đủ những ngày ông được thụ chức trong giáo hội. Có lẽ ông là người có học vấn và học đạo xuất sắc hơn người, nên vừa thụ phong linhmục xong, nhận vật kỷ niệm, khao vọng anh em nhà dòng, là được trao phó ngay chức vụ đảm nhiệm rất quan trọng, chức giữ việc trong giáo hội, tức quản lý tài sản tiền bạc của giáo hội, công việc ấy rất nặng nề, trách nhiệm, phải rất xuất sắc, uy tín mới được giao. Ông tự ví: “Thầy cả giữ việc Vít vồ thì chẳng khác gì như quan Tọa triều” (Vít vồ tức quản lý, ngày nay không còn thấy trong chữ Q.N nữa). Với chức vụ ấy, ông có cơ hội đi lại nhiều lần giữa Việt Nam - Macao - Goa (một xứ ở Ấn Độ) rồi sang Trung Hoa (ông ghi là nước Đại Minh) và nhiều nước khác, để lo việc đạo, uy tín ông ngày càng tăng.

Lúc bấy giờ, phát sinh ra việc tranh chấp cực kỳ nặng nề giữa hai phe truyền giáo là dòng Đa Minh và dòng Tên, có áp lực chính trị quốc tế xen vào, tòa thánh La Mã lại dường như nghiêng về phía dòng Đa Minh mà bỏ rơi dòng Tên, ông đã cùng một phái đoàn thầy giảng Việt Nam sang tận Bồ Đào Nha yết kiến nhà vua, nhờ can thiệp với Tòa Thánh, nhưng không được giúp đỡ mà còn bị lưu vong ở Lisbone hơn 30 năm rồi chết ở đấy. Trong hơn 30 năm này ông dùng để trước tác, biên soạn tự vị, sao chép sách vở, viết nhật ký với ý đồ gởi về quê hương toàn bộ tác phẩm của mình, ông viết công phu, tỉ mỉ, không có ý làm văn chương, nhưng là biên soạn, ghi chép những việc thật, người thật ở xứ người, tả đầy đủ, rõ ràng xã hội Tây phương bấy giờ, và so sánh với xã hội ta, mong muôn lúc trở về sẽ truyền bá, cải tiến cho bằng người. Tiếc thay, ông đã không làm được vì đã chết ở đất nước người sau hơn 30 năm lưu vong vì sự phân chia hai dòng truyền giáo mà ông đã bất lực không kết hợp lại được.

Những sách của ông, theo di chúc, được gởi về quê hương song khi ấy dòng Đa Minh và dòng Tên còn đang kháng nhau kịch liệt, đốt cả nhà thờ của nhau, bắt giáo sĩ của nhau nhốt cả vào chuồng trâu bò, kể cả việc đổ máu, việc chia rẽ diễn ra khắp các nước có giáo hội của hai dòng. Riêng nước ta cũng nhằm vào thời các vua Nguyễn bài đạo Ki Tô ráo riết, nên những sách ông gởi về không biết lưu lạc phương nào? Chút may mắn còn lại là thư viện Tòa thánh Vatican còn lưu của ông một số ít, không tới một phần hai mươi số sách của ông (so với bản kê khai sách trong thư viện riêng ông, chính tay ông viết), may thay, trong đó còn lại cuốn quan trọng hơn cả, cuốn viết tay, nhan đề “Sách sổ sang chép các việc” là cuốn có cái nhìn tổng quan, bao quát, của sự nghiệp trước tác và cả thời đại ông sống. Cũng từ cuốn này ta có thể so sánh chữ Q.N buổi bình minh ấy với hiện tại, cách nhau ngoài 200 năm đã có những biến thiên gì?

Xuyên suốt cuộc đời ông đã sống, làm việc, đọc ông dù còn lại không nhiều, chân dung ông như hiển hiện trước mắt, một vị thầy cả trầm tư, đạo mạo, thông thái, cần cù nhẫn nại.

Chỉ riêng một cuốn sách ít ỏi mà nay ta còn lại trong tay, dày trên 600 trang, do chính ông viết tay nắn nót cẩn thận, nếu có được tất cả sách của ông đã viết thì chúng ta đã có thể có cả một kho báu văn học Q.N buổi đầu đồ sộ đến nhường nào?

Sự nghiệp của Philipphê Bỉnh rất lớn lao, ông là một tài năng đa dạng, về ngôn ngữ học, xã hội học, nhà văn và họa sĩ. Riêng trên lĩnh vực từ điển, ta sẽ tìm thấy những gút mắc về những bộ từ điển được gọi là “tối cổ” mà lâu nay coi như đã thất lạc không còn tìm ra manh mối, thì nay những mấu chốt ấy có thể thấy được trong sách của Philipphê Bỉnh, những cuốn từ điển “Tôi tối cổ”, cổ hơn cả những cuốn của A.de Rhodes in năm 1651, của Pigneau de Béhaine đã bị cháy ởCà Mau đầu thế kỷ 19, hay cuốn của Tarberd tu bổ lại cuốn bị cháy. Hai cuốn “Tôi tối cổ” là hai cuốn đã được nhắc đến trong bài tựa của cuốn tự vị cổ nhất in 1651 của de Rhodes, đó là hai cuốn của Gaspas D’amaral, và Antonio Barbosa mà tưởng chừng không bao giờ còn cơ hội thấy bóng dáng. Việc vô cùng quan trọng này, trong phạm vi một bài viết ngắn không thể nói hết được, phải chờ những nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ, của ta sẽ làm việc đầy đủ hơn, để đưa ra ánh sáng, vì đó là những bộ sách quý giá hiếm hoi của chữ Q.N trong buổi đầu và là cái mốc của lịch sử văn học Quốc Ngữ. Có thể nói Philipphê Bỉnh là nhà văn viết bằng Q.N hoàn chỉnh nhất và đầu tiên của nước ta. Ông biết nhiều thứ tiếng, nhất là Pháp và La Tinh, nhưng không viết tiếng nước ngoài mà người chỉ chăm chú viết tiếng Việt cho người Việt đọc, lòng yêu dân tộc của ông rất cao. Ở cách chúng ta ngoài 200 năm đã có một tấm lòng, một khối óc, một tài năng như thế, đã đóng góp trí tuệ mình vào gia tài văn hóa dân tộc, thật đáng cho chúng ta tôn vinh, ngưỡng mộ và tri ân.

Cũng từ cuốn sách này mà ta có thể so sánh chữ Quốc Ngữ buổi đầu với hiện tại, cách nhau trên 200 năm mà đã có những biến thiên gì? Ví dụ:

Nay ta viết và đọc: Đức Chúa Trời, Cũng như, Cùng nhau, Quản lý, Hạ Hoàng, Huyện, Thôn, Dòng Chúa, Thầy Dòng, Song le, Trước khi,...

Thì lúc bấy giờ, Philipphê Bỉnh viết: Đức Chúa Blời, Cŭ~ như, Cŭ` nhau, Vít vồ, Hạ Hàǒù, Huện, Tôn, Dàõ Chúa, Thầy Dàõ, Saǒ le, Trc' khi...

Ông lại còn dùng rất nhiều chữ viết tắt như: Rg` (rằng) Ng` (người) Chg’ (chẳng)... riêng chữ Vít Vồ (tổng quản, quản lý) cho đến nay không còn dấu vết trong chữ viết và ngôn ngữ của ta, chỉ phỏng đoán theo ý của toàn câu thì nó có nghĩa là một chức vụ quan trọng như tổng quản, quản lý, trông coi tiền bạc, tài sản của giáo hội, chứ không thể tìm đâu ra chữ “Vít vồ” tương đương với chữ gì hiện nay.

Cũng cần cảm ơn người đã có công khám phá ra kho tàng sách vở của Philipphê Bỉnh là linh mục Thanh Lãng, một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, Chủ tịch Trung tâm Văn Bút VN trước 1975, ông đã bỏ ra nhiều công sức và tiền bạc chụp lại phim toàn bộ bộ sách của Thầy Cả Bỉnh còn lưu lại ở thư viện Tòa thánh Vatican, mục “Tài liệu Bắc Kỳ”, mang số Borghese Tonchino 3, kho tàng ấy đã chìm vào lãng quên hơn 200 năm, chúng ta không thể lại để tiếp tục lãng quên, sẽ có tội với tiền nhân và nền văn hiến nước nhà.

Bài viết ngắn này, chúng tôi tha thiết mong liên Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, truy tầm, những tác phẩm vô giá về văn học Quốc Ngữ này, hiện còn lưu giữ ở thư viện Tòa thánh Vatican, nước Ý.

H.H.T
(Tạp chí Sông Hương, số đặc biệt T.3-13)

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Kontum - thành phố của những cơn gió



Kontum - một thành phố của Tây Nguyên rộng lớn nhưng nó nhỏ, nhỏ như bàn tay em bé vậy. Chỉ khoảng 3 ngày là bạn đã đi hết Kontum, chỉ là đi hết thôi, nhưng để cảm nhận, hiểu và lắng đọng có lẽ bạn cần 3 tháng, 3 năm, thậm chí là 30 năm. Ở đây, hồn người Kontum phiêu lãng như những cơn cuồng phong hoang dại.
Bạn đến Kontum vào một buổi sáng mai, ánh mặt trời chói chang nhưng không gay gắt, những vạt đồng xâm xấp nước, dấu vết còn lại của những cơn mưa ầm ĩ. Từ trên ô tô nhìn xuống nó như những con sông rộng lớn, những con sông không có dòng chảy xiết, không thuyền bè và những bãi bồi.
Đến với Kontum, bạn không thể không nhắc đến dòng sông độc đáo và duy nhất ở Việt Nam: Sông Đăkla - hai dòng chảy ngược. Lòng sông rộng và sâu, những dòng nước ngược nhau lao vun vút về hai phía như những người tình cũ chạm mặt nhau trên đường rồi vội vàng lao về hai cực. Những dòng chảy tạo nên sự khác lạ của dòng sông, niềm tự hào của người Kontum.
Tuổi thơ của những đứa trẻ nơi đây, cả người Kinh và người đồng bào, không thể tách rời dòng sông Đăkla. Những bãi bồi xanh mướt, những vạt mía trổ hoa như một thảm lau rừng, những bãi cát nổi lên vào mùa cạn. Không chỉ vậy, những giọt nước mắt cũng lăn dài khi về mùa lũ, nước sông giận dữ dâng cao ngập cầu Đăkla. Những con mắt đen thẫm và trũng nước nhìn những vạt ngô, sắn bị nhấn chìm trong nước, những cơn nấc bị nhấn chìm trong dòng nước mắt. Không còn nụ cười chỉ còn những lo toan.
Ở Kontum, bạn sẽ không quá ấn tượng với những công trình nhân tạo. Bởi đến với mảnh đất này, bạn sẽ được xõa thật sự với những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn cây cỏ, những con suối róc rách chảy suốt đêm ngày. Những cơn gió cao nguyên bạt ngàn đủ làm cho nỗi buồn chênh vênh biến mất… cảnh vật nơi đây sẽ thật sự phù hợp để làm một nơi nghỉ dưỡng độc đáo, một nơi đủ yên bình để quên đi lo toan thực tại, những vẫn đủ sôi động để không cảm thấy nhạt nhẽo và nhàm chán.
Thành phố nhỏ thôi nhưng nó là một thành phố của thiên nhiên. Thành phố xanh với những vạt cây, tươi với những “hàng cao su đội nón”, phiêu với những bụi cỏ lau ngập trắng đường đi… tất cả sẽ khiến bạn không thể quên mà sẽ luôn mãi nhớ.

Tuy nhiên, Kontum vẫn có những điểm sáng về những công trình nhân tạo. Tòa giám mục rộng thênh thang, bạt ngàn gió cuốn và những thảm lá vàng dày đặc. Nhà thờ gỗ sáng choang, lung linh đèn, hồn phiêu bạt in hằn trong từng tấc gỗ.


Cầu treo dài như một bờ mi, nối niềm hai đầu cầu, nối liền sự hiện đại và hoang dã, nối liền những mảnh tình của con người nơi đây. Đẹp nhưng vẫn hoang sơ, đẹp nhưng không nhạt nhẽo. Kontum là vậy, rất nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần sâu sắc, rất hoang sơ nhưng vẫn nhộn nhịp không ngừng…
Sẽ thật thiếu sót nếu bạn không nhắc đến văn hóa ẩm thực của người Kontum. Cà phê là thứ đồ uống được ưa thích nhất. Cà phê được pha từ những hạt cà phê thơm ngon nhất. Đặc quánh, sánh và thơm lừng. Cách pha phin đặc biệt mà ở những nơi khác không hề có. Chiếc vỉ chặn sẽ được bỏ ra trước khi đưa ra cho khách, cà phê đã được nén chặt từ trước. Từng giọt, từng giọt chảy. Người Kontum uống cà phê nhiều như nước lọc. Những quán cà phê nơi đây nhiều vô kể. Có những quán rất đẹp, như một khu rừng thu nhỏ. Thu một góc Kontum vào từng khu nhà. Cà phê Eva nổi tiếng bởi những góc đẹp, lung linh và rộng. Cà phê Adam nổi tiếng bởi những ngọn suối ngay trong khuôn viên. Cà phê Nắng thoáng đãng và rất có hồn…
Bạn có thể thưởng thức cà phê ở dọc bờ kè. Những quán bình dân, không tên. Mát rượi gió sông Đăkla bay nhảy. Ở đây cà phê đã trở thành một phần hồn người Komtum nói riêng cũng như hồn người Tây Nguyên nói chung.
Những món ăn vặt ở đây cũng trở thành một nét văn hóa đẹp. Hàng chục loại bánh, hàng chục loại chè. Bánh xèo, bánh canh đuôi heo, bánh hỏi, bánh ít, bánh bèo… chè ngô, chè khoai, chè chuối, chè đậu… những bát ốc gạo xào cốt dừa. Hủ tiếu tiêu cay, phở nam ngọt vị… những món ăn tưởng chừng quen thuộc lại trở nên khác lạ với tương đen. Một gia vị đặc biệt chỉ Komtum mới có…
Đến với Kontum, bạn sẽ tìm thấy những bình yên trong những điều bình dị nhất. Những khoan thai giữa bộn bề công việc hàng ngày. Ở đó có cà phê làm chếnh choáng hồn người, những cơn du phong nghiêng ngả và cả những buổi đêm buồn như một tiếng thở dài.

Chúng mình cùng ngắm tiếp cảnh đẹp nơi cao nguyên lộng gió.


Một góc yên bình của quán cà phê.



Hoa dã quỳ nét đẹp đặc trưng của đất rừng Tây nguyên.


Hoa osaka rực vàng một góc.



Đại Đậu
Ảnh: Hải Nguyễn, Văn Thịnh


Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Ví ơi là ví


TTCT - Cuối phần viết về nhân vật Mạnh Thường Quân, Tư Mã Thiên kể (tạm dịch): “Tôi thường qua đất Tiết, thấy phong tục thôn xóm phần đông con em theo thói hung bạo, khác hẳn đất Trâu đất Lỗ.

Hỏi thì nghe nói rằng: Mạnh Thường Quân kéo bọn hiệp khách, bọn gian manh khắp thiên hạ về ở đây hơn sáu vạn nhà nên nó vậy. Thế gian truyền tụng Mạnh Thường Quân hiếu khách, thiệt là không ngoa” (Sử ký, quyển 75, Mạnh Thường Quân liệt truyện).
Đất Tiết thuộc nước Tề, là nơi vua Tề phong cho Tĩnh Quách Quân Điền Anh cha của Mạnh Thường Quân Điền Văn, đất Trâu và Lỗ cũng thuộc Tề, cả ba nơi thuộc địa bàn tỉnh Sơn Đông ngày nay. Vùng đất Tề thời nhà Chu là đất phong của Khương Thái Công (Tử Nha), Trâu là quê hương Lão Tử, Lỗ là quê hương Khổng Tử. Nói đến Tề Lỗ, từ hồi thời Chiến Quốc đến sau này người ta đều nghĩ ngay đây là nơi phong tục thuần hậu, cái nôi của lễ giáo.
Đùng một cái, tay Mạnh Thường Quân phá hư be bét một phần, nuôi chứa đám lưu manh, dưỡng cho nó sinh sôi nảy nở đến chóng mặt, đất Tiết từ thời Mạnh Thường Quân cai quản đến lúc Tư Mã Thiên đi thực địa cách nhau chỉ hơn 300 năm, mà từ 3.000 thực khách tăng lên 60.000 hộ, mỗi hộ không biết mấy khẩu nữa. Xem ra nền phong hóa Tề Lỗ bắt đầu hủ hoại từ trước Công nguyên rồi!
Đến Việt Nam, tay Mạnh Thường Quân gặp vận đỏ, chắc là cái số của y được nổi tiếng. So trong tứ công tử thời Chiến Quốc (Mạnh Thường Quân, Bình Nguyên Quân, Tín Lăng Quân và Xuân Thân Quân) thì Tín Lăng Quân Ngụy Vô Kỵ mới là người đúng mực hào hiệp, có biệt nhãn, đức độ và trung tín, ba tay còn lại cũng đều nuôi khách vài ngàn nhưng tính cách, tài năng thì xoàng thôi.
Không biết ông nhà Nho tào lao nào đầu tiên đã quơ cái tên Mạnh Thường Quân này gắn vào cho mấy vị hảo tâm từ ái, hào hiệp trượng nghĩa ở xứ ta đến nỗi chết danh, điều oan trái này có khi còn hơn cả sự chịu đựng của dân Tề Lỗ nữa.
Phép ví của người mình yếu, những kiểu như mặt đỏ tợ Quan Công, nóng như Trương Phi, khóc như Lưu Bị coi ra còn dễ chịu bởi chưa xúc xiểm gì đến người được ví, chỉ là nói cho vui miệng, nhã hơn một chút thì như cánh làm văn gọi là hình tượng văn học. Kém nữa là cái kiểu ví đại đi, như đem Triệu Tử Long cơ bắp ví với một anh quan có thể có khả năng tả xông hữu đột bằng mưu mẹo, đem Tả Ao thầy phong thủy ví với một nhà nghiên cứu lịch sử địa lý.
Gặp mấy vụ này, thoạt tiên nghĩ đến điên cả đầu mà không hiểu hình tượng và người được ví giống nhau ở chỗ nào, cuối cùng té ra do cái người đưa ra ví von kém cỏi.
Ở xứ ta, Mạnh Thường Quân thuộc loại được ví “đại nó đi”. Ba bản dịch Sử ký ra tiếng Việt - của Nhượng Tống, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Nhữ Thành (Phan Ngọc) - đều chưa dịch Mạnh Thường Quân liệt truyện. Người ta chỉ biết nhân vật qua vài trích đoạn trong bản dịch Chiến Quốc Sách, Cổ văn hoặc Cổ học tinh hoa, mà mấy đoạn này không thể hiện đủ và đúng bản chất và hành trạng nhân vật.
Sách Thành ngữ - điển tích - danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh viết về Mạnh Thường Quân khá dài nhưng lại không nêu bật được bản chất cốt lõi của nhân vật.
Tư Mã Thiên viết tiểu sử Mạnh Thường Quân hoàn chỉnh, cuối truyện không khen một chữ nào, chỉ nhận xét là “hiếu khách”, còn khách thuộc loại gì thì đại sử gia này chơi trò oral history (sử khẩu thuật) rất lợi hại, để cho bà con trong vùng phát biểu.
Đọc Tư Mã Thiên thấy suốt đời Mạnh Thường Quân chưa từng làm việc thiện nguyện, chưa từng bỏ tiền ra bồi dục nhân tài. Liên quan đến việc nghĩa là cái vụ xóa nợ thuế cho dân đất Tiết, nhưng vụ này chẳng qua do Phùng Huyên làm liều rồi báo cáo sau, Mạnh Thường Quân đụng việc đã rồi đành bấm bụng mà chịu, nên điển cố Trung Hoa “thị nghĩa” (mua nghĩa) chỉ nói về sự sáng suốt lo xa cho chủ của Phùng Huyên mà thôi.
Thực khách ba ngàn là những ai? Vài ba mưu sĩ được nêu tên như Tô Đại, Công Tôn Hoằng, Phùng Huyên, Đàm Thập Tử, một tay trộm cao cường lẻn được vào chỗ vua Tần nghỉ để chôm lại cái áo lông chồn trắng cực quý mà Mạnh Thường Quân mới vừa tặng mấy hôm trước, một tay giỏi nhái tiếng gà gáy đến độ khiến quan giữ cửa ải tưởng trời sáng phải mở cửa nên chủ tớ ù chạy thoát nạn.
Số còn lại hẳn là con nhà võ tàng tàng không thấy nói đến nhân vật nào có tài năng đặc biệt, bọn này tài kém đến độ, lúc Mạnh Thường Quân bưng mớ sổ sách thuế khóa đất Tiết ra hỏi: “Có vị nào biết tính toán đi giúp cho Văn vụ này?”, cả đám im ru, cuối cùng chỉ có Phùng Huyên nói: “Tôi đi được”.
Nhìn đội ngũ này có thể nhận định tổng quan tình hình nhân sự, Mạnh Thường Quân chỉ nuôi những người tư vấn cơ mưu, du thuyết, thám tử, võ sĩ, nói chung là lực lượng bảo vệ và củng cố quyền lực chính trị, gắn cho họ một cái tên chung “tân khách” cho nó sang.
Tư Mã Thiên viết: “Cuối đời, Mạnh Thường Quân phản Tề, đến khi chết, đám con tranh ngôi vị làm nước loạn, Tề và Ngụy liên công diệt Tiết, diệt cả đám con cháu, Mạnh Thường Quân tuyệt tự”.
Thành thật chia sẻ cùng mấy vị mang danh “Mạnh Thường Quân” xứ ta. Ôi, ví ơi là ví!
HỒ VIÊN
(Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần)

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Thăm nghĩa trang đồng nhi ở Pleiku, Viet Nam - VIDEO


Kontumquêhươngtôi xin giới thiệu video về Nghĩa trang Đồng Nhi ở Pleiku, Việt Nam, xin mọi người cùng suy ngẫm và có hành động thiết thực để giúp phần nào giải quyết vấn nạn này.



"Ở Việt Nam hiện nay, mỗi sáu giây có một phá thai, theo cha Đông, người đã xây dựng những nghĩa trang đồng nhi ở Việt Nam. Từ năm 1992, đã có 250,000 thai nhi được chôn cất.....Nhưng có bao nhiêu em đã bị cha mẹ vất bỏ không một nấm mồ....

Mẹ Teresa nói: "Tôi nghĩ nguyên nhân phá hùy hòa bình mạnh nhất là phá thai, vì đó là chiến tranh chống lại trẻ thơ - là sự ám sát trực tiếp trẻ thơ vô tộì - do chính tay mẹ mình. Và nếu chúng ta chấp nhận một người mẹ có thể giết chết chính đứa con của mình thì làm sao chúng ta có thể bảo người ta đừng giết nhau?"

Xin bấm vào đây để xem phim thăm nghĩa trang đồng nhi Pleiku với cha Đông:



Xin quí vị gởi thông điệp và cuốn phim nảy cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp để góp phần chấm dứt cái tội ác khủng khiếp này đối với trẻ thơ con Thiên Chúa. Xin cám ơn quí vị. KMF

Nguyen Van To
Strategic Planner,
KMF
website: www.helpkontum.org
or www.giupkontum.org".