Tôi chịu ơn sách vở thật nhiều, nhờ sách vở mà đời sống tôi thành ra súc tích, khác hơn cuộc đời cơm áo............Những cơn bão của đời là để chứng nghiệm sức mạnh của chiếc neo của ta............Hãy cẩn thận lưỡi, vì đó là một chỗ ướt dễ trượt............Tình bạn là một thứ tình cảm êm dịu, đủ sức tô bồi cho đời người được sung sướng và có đạo đức............Kỹ nghệ giải trí ngày nay chú trọng vào ô nhiễm của các dòng sông nhiều hơn là ô nhiễm chính nó đưa vào tư duy của con người............Nếu bạn muốn cảm thấy giàu có, hãy đếm tất cả những gì bạn có mà tiền bạc không mua được............

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Tận cùng cái... chết




Tận cùng cái chết là gì ư?

Thực ra, mình không có ý chơi bời chữ nghĩa, bởi còn lòng dạ nào nữa mà chơi với nhởi. Một tuần lang thang dưới cái nắng nóng kinh hoàng của Chư Prông, Gia Lai mùa này, mình đã cảm nhận được đầy đủ sự khiếp đảm của con người khi rừng đã hết.
Nóng chỉ là một biểu hiện trong muôn vàn. Nên vài dòng này, đương nhiên sẽ không nói đủ cho chuyện đó. Mình trưng ra đây mấy tấm hình lặt vặt dọc đường, về một điều nhiều người đã biết: quan tài xi măng!
Vì sao người Jrai, vốn được sinh ra trong rừng, lớn lên trong rừng, ngàn đời tuân theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh (cây rừng nào cũng có yang - thần linh cả) mà nay lại nhất loạt dùng quan tài xi măng ư? Không còn cây để làm hòm nữa, chẳng xi măng thì biết làm sao!
Đơn giản chỉ có thế mà nghe sao buồn đến vậy?


Chuẩn bị đưa tiễn một người Jrai về với đất.
  

Rừng không còn gỗ, hòm xi măng được dùng phổ biến.
  

  
  


Hóa ra câu nói thường nghe từ bác Nguyên Ngọc là sự thật: Tây 

Nguyên cơ bản đã phá xong rừng!

Chuyện gì sẽ xảy ra, khi "những đứa con của núi rừng" nay đã 

không còn rừng để làm chốn nương thân?


NQT

(Nguồn: pleikucafe.com)


Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Lang Biang Cao Nguyên xưa




Trong tiếng Latin Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem có nghĩa là "cho những người này niềm vui, cho những người khác sự mát mẻ". Với nhiều cảnh quan đẹp, Đà Lạt là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam, được mệnh danh là: thành phố hoa, thành phố tình yêu, thành phố mùa xuân, thành phố sương mù.



Indochina Resorts


Cao nguyên Lang Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú của các tộc người Thượng. Người Việt đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định của mình. Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng người Thượng ở Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai nhà thám hiểm đầu tiên đã tìm ra cao nguyên Lang Biang. Hành trình của Paul Néis và Albert Septans mở đường cho nhiều chuyến đi khác như A. Gautier (năm 1882), L. Nouet (1882), thiếu tá Humann (1884).

Ngày 3 tháng 8 năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này bất thành. Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm 1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mê Công (thuộc địa phận Campuchia).

Tháng 1 1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi... Từ ngày 8 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6 năm 1893, Yersin đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng. Và 15h30 ngày 21 tháng 6, Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt "3h30: grand plateau dénudé mamelonné" (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).

Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với châu Âu để xây dựng khu nghỉ mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul Doumer viết một bức thư hỏi ý kiến của Yersin, và Yersin đã trả lời là cao nguyên Lang Biang. Tháng 3 năm 1899, Yersin cùng toàn quyền Doumer thực hiện một chuyến đi lên cao nguyên Lang Biang và chuyến đi này có ý nghĩa quyết định về việc thành lập một trạm điều dưỡng ở đây.

Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung Kỳ tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành chính được thiết lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang. Đó có thể được xem là văn kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Bộ bưu ảnh Lang Bian của NXB Edition La Pagode Saigon giới thiệu phong cảnh, con người và đời sống sinh hoạt của vùng đất này những năm đầu thế kỉ XX. Trình tự được sắp xếp theo mã số trên các tấm bưu thiếp.

163b

163. Làng người Thượng gần Neutong 

164c

164. Toàn cảnh con đường gần đỉnh Neutong  
 
165c

165. Quang cảnh Yaback  
 
166b

166. Toàn cảnh toàn cảnh gần đèo Daltroum 
167b

167. Dinh Toàn quyền Di Linh. 
168g

168. Binh lính người Thượng làm việc tại Dinh toàn quyền Di Linh và gia đình

169a
 
169. Rặng núi Braian nhìn từ Dinh Toàn quyền Di Linh


170

170. Thác Bo Bla gần địa phận Di Linh (cao 32m)

171a

171. Người Thượng ở Di Linh, đằng xa phía sau là dinh toàn quyền

172a

172. Thác Liên Khàng nhìn từ xa


173

173. Thác Liên Khàng mùa khô


174c

174. Thác Liên Khàng mùa mưa


175a


175. Thác Gou Gah

176

176. Thác Gou Gah, hình chính diện


177

177. Thác Gou Gah, hình chính diện

178c

178. Trên đường từ Djrinh đi Đà Lạt


178

178. Một gia đình người Thượng trên đường xuống núi

179

179. Đường vào Đà Lạt 

179a

179. Trong buôn làng


180

180. Quang cảnh Đà Lạt nhìn từ khách sạn

181b

181. Quang cảnh Đà Lạt 


182g

182. Thác Pren gần Đà Lạt


183c

183. Các ngọn núi cao nguyên Lang Bian nhìn từ đường rừng


184

184. Thác Cam Ly gần Đà Lạt

185b

185. Cao nguyên Đà Lạt nhìn từ đỉnh Lang Bian


186

186. Đường từ Đăng Kia lên Đà Lạt


187

187. Suối Đa Nhim, thượng nguồn của thác Ăn Krôet

188c

188. Làng người Thượng ở Đơn Dương


189c

189. Một ngọn thác trên đường từ Đơn Dương đi Đèo Ngoạn Mục


190h

190. Đàn ông người Thượng (Cho Ma)


191b

191. Phụ nữ người Thượng (Cho Ma)


192

192. Chiến binh người Thượng


193a

193. Nhà ở của người Thượng


194a

194. Phụ nữ và trẻ em trong một làng người Thượng gần Đà Lạt


195

195. Những người Thượng xuống núi đổi hàng


196

196. Trâu rừng


197c

197. Săn voi


198c

198. Một cú bắn đẹp


199v

199. Trở về từ cuộc săn nai ở Con Ka Tangs


200c

200. Một con hổ bị bắn gần con trâu nạn nhân của nó
 
291b

291. Nhóm người Thượng vùng Di Linh  
 
292c

292. Cư dân một làng người Thượng vùng Di Linh
 
293b

293. Thầy mo và trưởng bản

                                                                           (Sưu tầm trên mạng)

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

SỐNG TRONG ĐỜI SỐNG CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG




THĂM CÁC EM KHUYẾT TẬT CHA ĐÔNG - VIDEO

NHÀ NỘI TRÚ ĐĂK HÀ, KONTUM - VIDEO

NGHĨA TRANG ĐỒNG NHI CHA ĐÔNG, PLEIKU - VIDEO

THĂM NHÀ NỘI TRÚ PLEI KROI - VIDEO

Hội Ái Hữu và Truyền Giáo Kontum (KMF) là một tổ chức bác ái phi lợi nhuận được các cựu chủng sinh Địa Phận Kontum và thân hữu thành lập năm 2000 nhằm chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, bênh tật phong cùi, trợ giúp các trẻ mồ côi, khuyến tật, các học sinh nghèo không nơi ăn chốn ở và thiếu phương tiện học hành trong Giáo Phận Kontum, không phân biệt màu da, sắc tộc hay tín ngưỡng. Bất cứ ai cũng có thể tham gia những hoạt động của hội nếu tuân theo mục đích và ủng hộ những sinh hoạt của hội. KMF được công nhận bởi luật pháp Hoa Kỳ. Tất cả đóng góp đều có thể trừ thuế tại Hoa Kỳ. Số Federal Tax Identification là: 42-175722.

KÍNH XIN QUÍ VỊ GHÉ THĂM VÀ HỖ TRỢ:  
HỘI ÁI HỮU VÀ TRUYỀN GIÁO KONTUM - KONTUM MISSIONARY AND FRIENDSHIP
http://giupkontum.org     http://helpkontum.org

Nguồn: 

Nguyen Van To
Strategic Planner,
KMF
website: www.helpkontum.org

or www.giupkontum.org

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Cà đắng - món ngon từ núi rừng


Qua vùng đất Bắc Tây Nguyên, bạn đừng bỏ lỡ cơ hội được đắm say trong men rượu cần nồng nàn, thưởng thức miếng thịt rừng thơm nức và vị cà đắng đậm đà, ấn tượng. Cà đắng không phải cao lương mỹ vị nhưng đó là món ngon kết tinh từ nắng gió cao nguyên, của màu mỡ đất đỏ bazan, như cách sống chất phác, thật thà của người dân nơi đây.

Trên những rẫy rừng Tây Nguyên, dễ bắt gặp những vạt cây thảo, cao chừng 1m, thân nhẵn nhụi, lá hình mác, hoa màu tím nhạt chính là cây cà đắng - một trong những thực phẩn quen thuộc trong ẩm thực của người dân tộc thiểu số Kon Tum. Cà đắng mọc thành vạt ven những ngọn đồi, bờ suối, quả nhỏ như cà pháo hoặc quả hình thuôn dài, to hơn đốt tay, màu xanh sậm, sọc trắng dọc quả. Trước đây, cà đắng là cây mọc hoang bà con đi rẫy về, tiện tay hái ít quả về sửa soạn bữa cơm. Sau này cà đắng ngày càng được ưa chuộng nên bà con đem về trồng trong vườn nhà, trái to hơn, màu xanh nhạt, vị đắng giảm đi chút ít, dễ ăn hơn và phù hợp với khẩu vị nhiều người.
Thịt nướng cà đắng

Cách chế biến đơn giản và giữ trọn vẹn vị ngon của cà đắng chính là muối cà đắng. Chọn cà còn non, đem rửa sạch, đặt lên thớt, dùng cái dao to bản, sống dày đập mạnh một cái, toàn trái cà sẽ dập thành đôi, rồi ngâm nước lạnh một lúc mới vớt ra để ráo. Ớt xanh giã nát, trộn vào với cà, bột ngọt, muối rồi tiếp tục giã sơ qua cho thấm, vậy là đã có chén muối cà đắng đơn giản để ăn với cơm trắng, vị cay xé lưỡi của ớt tạo nên một khẩu vị lạ, khiến bữa cơm rất “tốn gạo”. Món này thường được bà con làm vào sáng sớm rồi mang lên nương ăn với cơm nguội, hoặc tích trữ sẵn cho những ngày đi rừng xa xôi. Có thể trữ cà bằng cách cắt miếng phơi khô, treo giàn bếp dùng dần; trước khi nấu đem ngâm nước chừng 5 - 10 phút, cà mềm và vị đắng vẫn không mất đi. Cà đắng nướng lại có vị thơm ngon đặc biệt, chọn quả đang độ “bánh tẻ”, da quả cà căng tròn, mỡ màng, hột chuyển màu hườm hườm vàng thì nướng mới dậy mùi thơm. Chỉ với vài cây củi khô nho nhỏ, đốt lửa cháy đượm, bà con nhanh chóng xắt cà đắng thành từng lát mỏng, xiên qua từng que đặt lên nướng. Chỉ một lúc sau cà bắt đầu chuyển sang màu nâu sậm và dậy mùi thơm lan tỏa, kích thích khứu giác. Bạn phải canh sao cho cà vừa chín tới, vẫn còn giữ chút nước đắng, hơi dai dai, mềm mềm, chấm với muối tiêu rừng hoặc ăn kèm với thịt rừng nướng cũng rất ngon. Lúc đầu, vị đắng của cà có thể làm bạn nhăn mặt khó chịu, nhưng bù lại hương thơm, và vị bùi lại có sức níu kéo vị giác rất mạnh, cứ thế bạn muốn nếm miếng thứ hai, thứ ba,… Dần dần cảm nhận được vị ngọt “có hậu”, còn dư đọng lại nơi đầu lưỡi, rồi nghiền nặng “cà đắng” lúc nào không hay.
 
Cà đắng nấu cá nhét
 
Cách chế biến cà đắng rất đa dạng, có thể nấu với các loại thủy sản như tôm, cá, ếch, lươn hoặc nấu với thịt rừng nai, nhím, heo rừng, cũng có khi nấu thành canh cà đắng. Nếu nấu với các loại thủy sản thì phải có ớt xanh thật nhiều và lá lốt băm nhỏ, như thế vị cà mới trọn vẹn hương vị. Bà con đồng bào thường chỉ chế biến đơn giản là đem thủy sản sơ chế rồi bỏ cà đắng, ớt xanh vào nấu chín, thêm chút nước săm sắp, nêm bột ngọt, muối hột. Đun củi chừng 10 phút thì thịt và cà chín, lấy muỗng (thìa) lớn quyết cho cà đắng nhuyễn đến mềm mịn, nấu thêm một lúc nữa thì bỏ lá lốt vào, nấu thành món súp hơi sền sệt. Bạn đã từng thử món ếch um cà đắng, lươn um cà đắng, cá đồng nấu cà,…Hãy nhai chầm chậm, bạn sẽ cảm nhận rõ nét vị béo của thịt, vị đắng của cà, vị bùi của lá lốt, hòa hợp khiến món ăn ngon lành quá chừng. Ăn miếng cà đắng, nghe vị cay xộc lên mũi, rồi vị ngọt bùi thấm đẫm trong vị đắng, như mới thực sự “chạm” vào nét đặc trưng của ẩm thực Tây Nguyên. Trước đây, người ta thường ăn không món súp này nhưng bây giờ có thể ăn kèm bún, hoặc bánh hỏi rất thuận tiện mà vẫn giữ nguyên vị ngon lành, hấp dẫn.
 
Ếch um cà đắng
 
Còn để nấu với các món thịt rừng thì thường nấu khô hơn một chút, và không quết cho cà đắng nhuyễn ra mà vẫn để nguyên hình, nguyên miếng. Thịt nhím, thịt heo rừng, thịt mang,…dem xắt vừa miếng ăn, ướp chút muối rồi thêm tiêu rừng, lá k’tem, ớt xanh. Xong đem xiên vào từng que, mỗi miếng thịt lại thêm miếng cà xắt mỏng, xếp từng que lên bếp nướng.
 
Cà đắng ăn sống hay nấu chín đều có những hương vị rất ngon và đặc trưng không giống bất kì loại thực phẩm nào. Từ một món ăn dẫn dã của người đồng bào dân tộc thiểu số, hiện tại cà đắng đã trở thành món ăn đặc sản và dễ tìm thấy trong nhiều nhà hàng ở Kon Tum. Thực đơn những món ăn từ cà đắng ngày một phong phú, đa dạng, phù hợp với khẩu vị của nhiều thực khách. Nhiều người còn cho rằng món ăn này có thể chữa được nhiều bệnh như tiểu đường, béo phì, kích thích tiêu hóa tốt. Cà đắng, món ăn dân dã như chính con người mảnh đất Bắc Tây Nguyên nắng gió, cà đắng - nhưng dư vị ngọt bùi còn mãi, như nét hồn nhiên trong tâm hồn mỗi con người nơi đây./.
 
Hà Oanh
(Nguồn: CTTĐTTKT)